Đến nội dung chính
Góc LuậtThông tin có nguồn · Biên tập có trách nhiệm
Tra cứu văn bản Văn bản đã lưu (0) Thông báoĐăng nhập

Quy chuẩn giới hạn tiếp xúc với 80 yếu tố hóa học tại nơi làm việc

Phạm vi, phương pháp và trách nhiệm quan trắc yếu tố hóa học theo QCVN 31:2026/BYT.

Mục lục nội dungThu gọn

Bộ Y tế ban hành Thông tư 38/2026/TT-BYT ngày 09/10/2026 kèm QCVN 31:2026/BYT về giá trị giới hạn tiếp xúc cho phép đối với 80 yếu tố hóa học tại nơi làm việc. Theo hồ sơ văn bản của Chính phủ, thông tư có hiệu lực từ ngày 09/4/2027.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Quy chuẩn quy định giới hạn tiếp xúc cho phép đối với 80 yếu tố được liệt kê tại Điều 1, trong đó có bụi cellulose, một số hợp chất cyanide, khói hàn, naphthalen, styren và thủy ngân vô cơ. Danh mục phân biệt một số yếu tố theo dạng hoặc nhóm tiếp xúc; vì vậy cần đối chiếu đúng tên, dạng và thông số tại Bảng 1.

Quy chuẩn áp dụng đối với cơ quan quản lý nhà nước về môi trường lao động, tổ chức quan trắc môi trường lao động và tổ chức, cá nhân có hoạt động phát sinh các yếu tố hóa học tại nơi làm việc.

Đọc giới hạn cùng thời lượng và phương pháp đo

Bảng 1 của quy chuẩn quy định giá trị giới hạn cho từng yếu tố; quy chuẩn còn có cách chuyển đổi đơn vị, tính giá trị tiếp xúc ca làm việc thực tế và điều chỉnh giới hạn khi thời lượng tiếp xúc vượt tám giờ mỗi ngày hoặc 40 giờ mỗi tuần theo các điều kiện được nêu tại Điều 5–8.

Việc xác định nồng độ phải lựa chọn và tuân thủ phương pháp tại Bảng 2. Điều 10 và Phụ lục I quy định việc sử dụng thiết bị đo điện tử hiện số trong các trường hợp tương ứng. Kết quả cần được đánh giá theo đúng phương pháp, đơn vị, thời lượng và điều kiện của yếu tố cụ thể, không dùng một ngưỡng chung cho mọi chất.

Trách nhiệm quan trắc và kiểm soát

Theo Điều 12–13, người sử dụng lao động căn cứ đặc điểm, điều kiện lao động và sự phát sinh, phát tán chất ô nhiễm tại từng vị trí để lựa chọn thông số quan trắc. Cơ sở có người lao động tiếp xúc với yếu tố hóa học trong Bảng 1 phải định kỳ quan trắc yếu tố đó và thực hiện biện pháp kiểm soát yếu tố có hại, bảo vệ sức khỏe theo quy định.

Tổ chức quan trắc chịu trách nhiệm về kết quả và tính trung thực, thực hiện quy trình phù hợp; máy, thiết bị quan trắc phải được kiểm định, hiệu chuẩn theo pháp luật về đo lường. Tần suất quan trắc thực hiện theo quy định được dẫn chiếu trong Luật An toàn, vệ sinh lao động.

Nguồn tra cứu

Bài viết dựa trên Thông tư 38/2026/TT-BYT và một số nội dung của QCVN 31:2026/BYT đính kèm. Cần tra cứu toàn bộ bảng giới hạn, phương pháp và quy định liên quan trước khi áp dụng. Hồ sơ văn bản của Chính phủ.

Hai loại giới hạn cần phân biệt: TWA và STEL

Phần giải thích từ ngữ của quy chuẩn định nghĩa hai khái niệm xuất hiện trong Bảng 1. Giới hạn tiếp xúc ca làm việc (TWA) là nồng độ chất trong không khí môi trường lao động, tính trung bình theo thời lượng tiếp xúc 8 giờ mỗi ca và 40 giờ mỗi tuần, mà người lao động không được tiếp xúc vượt quá. Giới hạn tiếp xúc ngắn (STEL) là nồng độ tính trung bình trong 15 phút mà người lao động không được tiếp xúc vượt quá.

Quy chuẩn nêu thêm các quy tắc đi kèm. Nếu nồng độ nằm giữa mức TWA và STEL, người lao động không được tiếp xúc quá 15 phút mỗi lần, không quá 4 lần trong một ca và các lần cách nhau trên 60 phút. STEL áp dụng với các yếu tố có thể gây kích ứng da, niêm mạc, ức chế hoặc kích thích thần kinh trung ương, hoặc tổn thương mô không hồi phục. Với chất chưa có giới hạn STEL riêng, nếu nồng độ tại một thời điểm vượt 3 lần giá trị TWA thì thời lượng tiếp xúc ở nồng độ đó không được quá 30 phút, và tại bất kỳ thời điểm nào nồng độ không được vượt 5 lần TWA, kể cả khi trung bình 8 giờ vẫn trong giới hạn.

Bảng 1 gồm những thông tin gì?

Điều 4 đặt Bảng 1 làm cơ sở xác định giới hạn tối đa cho phép với đơn vị mg/m³. Mỗi dòng cho biết tên yếu tố hóa học bằng tiếng Việt và tiếng Anh, công thức phân tử, số CAS, giới hạn tiếp xúc ca làm việc, giới hạn tiếp xúc ngắn, cùng nhóm độc tính. Số CAS là mã đăng ký chất hóa học của Hiệp hội Hóa chất Hoa Kỳ, hữu ích để tránh nhầm lẫn khi một chất có nhiều tên gọi. Quy chuẩn còn có phần giải thích riêng cho nhiều chất, gồm cellulose, cyanide, cyanogen, cyclohexan, dioxan, endosulfan, ethylen glycol và các hợp chất khác trong danh mục.

Đổi đơn vị từ ppm sang mg/m³

Với chất ở dạng hơi, khí đo bằng ppm, Điều 5 quy định công thức chuyển đổi: nồng độ (mg/m³) bằng ppm nhân trọng lượng phân tử của chất, chia cho 24,45. Hằng số 24,45 là thể tích của một phân tử khí tính bằng lít ở điều kiện tiêu chuẩn (25°C, 1 atm). Bước này cần thiết khi thiết bị đo hiển thị ppm còn bảng giới hạn dùng mg/m³.

Điều chỉnh giới hạn khi làm việc quá giờ

Giới hạn trong Bảng 1 dựa trên ca 8 giờ và tuần 40 giờ. Khi thời gian tiếp xúc dài hơn, quy chuẩn yêu cầu hạ thấp giới hạn theo công thức:

  • Quá 8 giờ mỗi ngày (Điều 6): TWAn = (8/h) × ((24 − h)/16) × TWA, trong đó h là số giờ tiếp xúc thực tế trong ngày (h lớn hơn 8).
  • Quá 40 giờ mỗi tuần (Điều 7): TWAt = (40/H) × ((168 − H)/128) × TWA, trong đó H là số giờ tiếp xúc thực tế trong tuần (H lớn hơn 40).

Để minh họa, nếu một người tiếp xúc 10 giờ mỗi ngày thì hệ số điều chỉnh là (8/10) × (14/16) = 0,7, nghĩa là giới hạn áp dụng chỉ còn 70% giá trị TWA trong bảng. Đây là phép tính minh họa của bài viết, không phải ví dụ nêu trong quy chuẩn; khi áp dụng cần lấy giá trị TWA của đúng chất.

Tính mức tiếp xúc thực tế của ca làm việc

Điều 8 hướng dẫn tính giá trị tiếp xúc ca làm việc thực tế bằng trung bình có trọng số theo thời gian: TWAtt bằng tổng các tích nồng độ và thời lượng đo (C1.T1 + C2.T2 + … + Cn.Tn) chia cho tổng thời lượng tiếp xúc T tính bằng phút. Có thể đo một lần kéo dài suốt thời gian tiếp xúc nếu nồng độ thấp, hoặc chia thành nhiều lần với thời lượng khác nhau để tránh quá tải giấy lọc hay dụng cụ lấy mẫu, miễn tổng thời lượng đo bằng tổng thời lượng tiếp xúc.

Nếu tổng thời lượng tiếp xúc từ 8 giờ trở xuống thì T tính là 480 phút; nếu trên 8 giờ thì T là thời lượng thực tế. Quy chuẩn cho phép đo với tổng thời lượng tối thiểu bằng 80% thời lượng tiếp xúc; khi đó phần thời gian còn lại được xem như có mức tiếp xúc tương đương phần đã đo, và T là tổng thời lượng đo.

Phương pháp xác định nồng độ

Chương III yêu cầu lựa chọn và tuân thủ phương pháp tại Bảng 2 của Điều 9. Điều 10 cho phép dùng máy đo điện tử hiện số, theo kỹ thuật ở Phụ lục I, trong hai trường hợp: vì lý do an toàn hoặc kỹ thuật của điều kiện sản xuất mà không thể lấy mẫu, hoặc nồng độ yếu tố hóa học thấp. Giá trị tiếp xúc ca làm việc khi đó vẫn tính theo Điều 8.

Trách nhiệm của từng bên

  • Tổ chức quan trắc (Điều 11, 14): việc quan trắc định kỳ chỉ do tổ chức đủ năng lực theo Nghị định 44/2016/NĐ-CP và Nghị định 140/2018/NĐ-CP thực hiện. Tổ chức chịu trách nhiệm về kết quả và tính trung thực, làm theo nguyên tắc, quy trình phù hợp pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động, và dùng máy, thiết bị đã kiểm định, hiệu chuẩn theo pháp luật về đo lường.
  • Người sử dụng lao động (Điều 12, 13): căn cứ đặc điểm lao động, sự phát sinh và phát tán chất ô nhiễm tại từng vị trí để chọn thông số quan trắc; định kỳ quan trắc các yếu tố trong Bảng 1 mà người lao động tiếp xúc; thực hiện biện pháp kiểm soát yếu tố có hại. Tần suất theo khoản 2 Điều 18 Luật An toàn, vệ sinh lao động.
  • Cơ quan quản lý (Điều 15, 16): Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố giao cơ quan chuyên môn về y tế kiểm tra chuyên ngành, giám sát hoạt động quan trắc và xử lý vi phạm theo thẩm quyền; Cục Phòng bệnh thuộc Bộ Y tế thực hiện kiểm tra chuyên ngành, giám sát và đề xuất xử lý.

Gợi ý cho doanh nghiệp trước ngày 09/4/2027

Doanh nghiệp nên lập danh sách các hóa chất đang phát sinh tại từng vị trí làm việc, đối chiếu tên chất và số CAS với Bảng 1 để biết chất nào thuộc phạm vi 80 yếu tố. Với chất có trong bảng, cần kiểm tra giới hạn TWA, STEL, nhóm độc tính, ca làm việc thực tế có vượt 8 giờ hoặc 40 giờ hay không, và làm việc với tổ chức quan trắc có đủ năng lực để chọn phương pháp đo phù hợp. Các số liệu giới hạn từng chất cần được lấy trực tiếp từ Bảng 1 của quy chuẩn, không dùng số liệu lược trích.

Ảnh minh họa: người dân và cộng đồng

Nguồn để đối chiếu

Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.

Mở nguồn chính thức