Đến nội dung chính
Góc LuậtThông tin có nguồn · Biên tập có trách nhiệm
Tra cứu văn bản Văn bản đã lưu (0) Thông báoĐăng nhập

Chứng chỉ thuyền viên tàu biển: thời hạn và chuyển tiếp từ 01/12/2026

Thời hạn chứng chỉ thuyền viên và điều khoản chuyển tiếp theo Thông tư 77/2026/TT-BXD.

Mục lục nội dungThu gọn

Thông tư 77/2026/TT-BXD quy định tiêu chuẩn chuyên môn, chứng chỉ, đào tạo, huấn luyện thuyền viên và định biên an toàn tối thiểu của tàu biển Việt Nam. Văn bản có hiệu lực từ 01/12/2026; Thông tư 20/2023/TT-BGTVT hết hiệu lực từ cùng ngày.

Phạm vi áp dụng

Thông tư điều chỉnh các nội dung nêu trên đối với tàu biển, tàu biển công vụ đã đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan thuộc đối tượng áp dụng. Yêu cầu chuyên môn được xây dựng gắn với Công ước STCW và các quy định tương ứng với từng chức danh.

Những nhóm chứng chỉ chính

Điều 18 phân loại chứng chỉ do cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp thành giấy chứng nhận khả năng chuyên môn và các giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ cơ bản, đặc biệt, chuyên môn. Mẫu chứng chỉ được quy định trong phụ lục của thông tư.

Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn có giá trị năm năm từ ngày cấp. Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ cơ bản cũng có giá trị năm năm; khi cấp lại vì mất, hỏng hoặc thay đổi thông tin cá nhân, thời hạn tương ứng với thời gian còn lại của chứng chỉ đã cấp trước đó.

Thời hạn huấn luyện nghiệp vụ đặc biệt tùy loại: chứng nhận do cơ sở đào tạo cấp có giá trị năm năm; chứng nhận huấn luyện viên chính có giá trị vĩnh viễn; chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ đặc biệt nâng cao tàu cao tốc có giá trị hai năm. Cần kiểm tra chính xác loại chứng chỉ và điều kiện cấp lại, không suy rộng một thời hạn cho mọi chứng chỉ.

Điều kiện cấp theo chức danh

Các điều kiện về bằng cấp, tiếng Anh hàng hải, kết quả thi, thời gian đi biển hoặc đảm nhiệm chức danh khác nhau theo chức danh, cỡ tàu và công suất máy. Chẳng hạn Điều 31 quy định riêng cho máy trưởng, máy hai tàu có tổng công suất máy chính từ 750 kW đến dưới 3.000 kW; Điều 30 quy định nhóm từ 3.000 kW trở lên.

Thuyền viên và đơn vị sử dụng lao động cần tra cứu đúng điều tương ứng, danh mục chứng chỉ huấn luyện phù hợp và các điều kiện khác tại thông tư; ví dụ về một nhóm chức danh không thay thế danh mục điều kiện đầy đủ.

Chứng chỉ và hồ sơ đã có được xử lý ra sao?

Theo Điều 70, chứng chỉ chuyên môn, giấy công nhận, giấy xác nhận, chứng nhận huấn luyện viên chính và giấy chứng nhận định biên an toàn tối thiểu được cấp trước ngày thông tư có hiệu lực tiếp tục có giá trị đến hết thời hạn ghi trên giấy hoặc đến khi cấp lại.

Thuyền viên đã thực tập sĩ quan trên tàu biển và được ghi nhận trong Sổ ghi nhận huấn luyện trước thời điểm có hiệu lực tiếp tục thực hiện theo Thông tư 20/2023. Một số hồ sơ đề nghị cấp giấy đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận trước thời điểm này cũng tiếp tục giải quyết theo thông tư cũ, theo phạm vi liệt kê tại Điều 70.

Ai cấp từng loại chứng chỉ?

Thông tư phân biệt rõ cơ quan cấp. Giấy chứng nhận khả năng chuyên môn (GCNKNCM) do Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam cấp, hoặc do Chi cục hàng hải và đường thủy, Cảng vụ hàng hải được Cục giao cấp, cho thuyền viên đáp ứng điều kiện và tiêu chuẩn chuyên môn phù hợp Công ước STCW. Các giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ thì do cơ sở đào tạo, huấn luyện cấp cho thuyền viên đã hoàn thành chương trình tương ứng.

Giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ cơ bản xác nhận thuyền viên đã hoàn thành huấn luyện về kỹ thuật cứu sinh, phòng cháy chữa cháy, sơ cứu cơ bản, an toàn sinh mạng và trách nhiệm xã hội. Ngoài ra còn có giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ đặc biệt và giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ chuyên môn; mỗi loại gắn với loại tàu và chức danh khác nhau.

Điều kiện chung để được cấp GCNKNCM

Điều 23 đặt ra các điều kiện chung trước khi xét điều kiện riêng của từng chức danh. Thuyền viên phải đủ độ tuổi lao động và tiêu chuẩn sức khỏe theo quy định, đồng thời tốt nghiệp hoặc hoàn thành một trong các chương trình sau: ngành hoặc chuyên ngành điều khiển tàu biển, khai thác máy tàu biển, kỹ thuật điện tàu biển tại trường đào tạo chuyên ngành hàng hải; chương trình tương đương tại cơ sở nước ngoài được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận; các học phần thủy thủ trực ca, thợ máy trực ca, thợ kỹ thuật điện ở trình độ cao đẳng trở lên; hoặc chương trình huấn luyện cấp GCNKNCM thủy thủ, thợ máy theo quy định của Bộ Xây dựng.

Một số trường hợp phải bổ túc các môn chưa học hoặc học chưa đủ, như tốt nghiệp các ngành trên ở trường không đào tạo chuyên ngành hàng hải, chuyên ngành sửa chữa máy tàu biển, chuyên ngành về phương tiện thủy nội địa, hoặc các chuyên ngành điện, kỹ thuật điện - điện tử, điện công nghiệp. Ngược lại, người tốt nghiệp ngành có tên khác nhưng đã học đủ môn theo chương trình của ngành quy định tại trường hàng hải thì không phải bổ túc thêm.

Cấp lại GCNKNCM: ba tình huống

GCNKNCM được cấp lại khi mất, hỏng, thay đổi thông tin cá nhân, hết hoặc sắp hết hạn. Điều kiện phụ thuộc thời điểm hết hạn:

  • Hết hạn không quá 05 năm hoặc sắp hết hạn dưới 01 năm: thuyền viên đã đảm nhiệm đúng chức danh tổng cộng từ 12 tháng trở lên trong 05 năm trước ngày đề nghị, hoặc 03 tháng trong 06 tháng ngay trước ngày đề nghị. Nếu không đủ, phải tập sự 03 tháng theo chức danh trong 06 tháng trước khi đề nghị, hoặc đạt kết quả kỳ thi sỹ quan, thuyền trưởng, máy trưởng tương ứng. Các chứng chỉ huấn luyện nghiệp vụ phù hợp phải còn hiệu lực.
  • Đã làm trên tàu có hạn chế chức danh thấp hơn: thuyền viên có thể được cấp GCNKNCM có hạn chế chức danh tương đương hạng tàu đã làm việc.
  • Hết hạn từ 05 năm trở lên: với thủy thủ trực ca, thợ máy trực ca, thợ kỹ thuật điện, tập sự 03 tháng trong 06 tháng trước khi đề nghị; với sỹ quan, thuyền trưởng, máy trưởng, phải đạt kết quả kỳ thi do Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định, và có các chứng chỉ huấn luyện còn hiệu lực.

Thời gian đảm nhiệm chức danh trên tàu công vụ dưới 500 GT hành trình không gần bờ được tính tương đương thời gian trên tàu từ 500 GT đến dưới 3.000 GT.

Cấp lại giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ

Với giấy hết hạn dưới 05 năm hoặc sắp hết hạn dưới 01 năm, thuyền viên cần có thời gian đi biển phù hợp tổng cộng từ 12 tháng trở lên trong 05 năm tính từ ngày đề nghị. Một số chứng chỉ có điều kiện bổ sung: các giấy huấn luyện cơ bản, chuyên môn về bè cứu sinh, xuồng cứu nạn, xuồng cứu nạn cao tốc và phòng cháy chữa cháy nâng cao phải đồng thời hoàn thành khóa huấn luyện duy trì năng lực; giấy huấn luyện đặc biệt cho tàu dầu, tàu hóa chất, tàu khí hóa lỏng chỉ cần thời gian đi biển phù hợp từ 03 tháng trở lên trong 05 năm.

Các giấy khác không đủ thời gian đi biển phải vượt qua bài kiểm tra đánh giá năng lực gồm lý thuyết và thực hành. Giấy đã hết hạn từ 05 năm trở lên thì phải học lại khóa huấn luyện để được cấp. Riêng giấy huấn luyện đặc biệt nâng cao tàu cao tốc hết hoặc sắp hết hạn dưới 03 tháng yêu cầu thời gian đi biển trên tàu cao tốc tối thiểu 06 tháng trong 02 năm, hoặc 03 tháng trong 06 tháng ngay trước khi đề nghị.

Bố trí thuyền viên trên tàu

Điều 63 giao chủ tàu trách nhiệm bố trí thuyền viên đáp ứng Bộ luật Hàng hải Việt Nam và pháp luật về tuổi lao động. Thuyền viên có thể được bố trí ở chức danh thấp hơn chức danh ghi trong GCNKNCM nhưng không được bố trí cao hơn. Người có GCNKNCM sỹ quan boong trở lên được làm thủy thủ trực ca; người có GCNKNCM sỹ quan máy trở lên được làm thợ máy trực ca. Chủ tàu cũng được bố trí thuyền viên đảm nhiệm chức danh kiêm tập sự đối với chức danh cao hơn phù hợp với GCNKNCM.

Trên tàu chở dầu, hóa chất, khí hóa lỏng, tàu khách, tàu khách Ro-Ro, tàu hoạt động ở vùng nước cực, tàu cao tốc theo Bộ luật HSC và tàu dùng nhiên liệu có điểm chớp cháy thấp theo Bộ luật IGF, thuyền viên ngoài chứng chỉ thông thường còn phải có giấy chứng nhận huấn luyện nghiệp vụ đặc biệt tương ứng. Thuyền trưởng tàu khách phải có ít nhất 24 tháng làm thuyền trưởng tàu không phải tàu khách cùng hạng, hoặc 24 tháng làm đại phó tàu khách.

Định biên an toàn tối thiểu và trường hợp miễn trừ

Điều 62 đưa ra khung định biên tối thiểu theo tổng dung tích, chia các nhóm dưới 50 GT, từ 50 đến dưới 500 GT, từ 500 đến dưới 3.000 GT và từ 3.000 GT trở lên; mỗi tàu đều phải có thuyền trưởng, còn số đại phó, sỹ quan boong, sỹ quan vô tuyến điện GMDSS và bộ phận máy tăng dần theo cỡ tàu. Chủ tàu cần tra bảng đầy đủ trong điều này để xác định số lượng từng chức danh.

Điều 64 cho phép hai trường hợp miễn trừ. Khi tàu đang hành trình trên biển mà thuyền trưởng hoặc máy trưởng không còn khả năng đảm nhiệm, chủ tàu có thể bố trí sỹ quan có chức danh cao nhất thay để tàu tiếp tục đến cảng gần nhất. Khi tàu ở cảng nước ngoài và do bất khả kháng định biên không đủ theo giấy chứng nhận, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam có thể cho phép tàu hành trình một chuyến đến nơi gần nhất có thể thay thế, bổ sung thuyền viên, trừ trường hợp sỹ quan vô tuyến điện GMDSS duy nhất trên tàu.

Thực tập trên tàu: trách nhiệm của ba bên

Cơ sở đào tạo lập kế hoạch thực tập theo chương trình và liên hệ chủ tàu tiếp nhận. Chủ tàu bố trí ăn ở, tạo điều kiện cho học viên, giảng viên, huấn luyện viên thực tập, xác nhận thời gian thực tập vào Sổ thuyền viên và khai báo điện tử vào cơ sở dữ liệu quản lý thuyền viên của Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam. Thuyền trưởng, máy trưởng và sỹ quan hàng hải hướng dẫn, đánh giá kết quả thực tập và xác nhận thời gian xuống, rời tàu. Học viên phải có Sổ thuyền viên và chứng chỉ huấn luyện nghiệp vụ phù hợp với loại tàu thực tập, tuân thủ nội quy của chủ tàu.

Lưu ý thực tế

Thuyền viên có chứng chỉ sắp hết hạn nên kiểm tra sớm thời gian đảm nhiệm chức danh và thời gian đi biển để biết mình thuộc nhóm nào trong các tình huống nêu trên, vì điều kiện cấp lại thay đổi mạnh khi chứng chỉ đã quá hạn từ 05 năm. Chủ tàu và đơn vị tuyển dụng nên lập bảng theo dõi hiệu lực chứng chỉ của từng thuyền viên, đối chiếu với quy định chuyển tiếp tại Điều 70 trước ngày 01/12/2026.

Nguồn: Thông tư 77/2026/TT-BXD trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ; toàn văn thông tư.

Ảnh minh họa: đô thị và hoạt động thương mại

Nguồn để đối chiếu

Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.

Mở nguồn chính thức