Đến nội dung chính
Góc LuậtThông tin có nguồn · Biên tập có trách nhiệm
Tra cứu văn bản Văn bản đã lưu (0) Thông báoĐăng nhậpĐăng ký

Bán hàng vi phạm chất lượng: Bị phạt đến 5 lần giá trị hàng hóa

Theo Luật 78/2025/QH15 đang áp dụng, tổ chức và cá nhân kinh doanh hàng hóa không đạt chuẩn phải đối mặt với mức phạt tiền từ 1 đến 5 lần giá trị sản phẩm vi phạm, đồng thời bị tịch thu khoản thu bất hợp pháp và công khai thông tin vi phạm.

Mục lục nội dungThu gọn

Khung phạt tiền từ 1 đến 5 lần giá trị hàng hóa

Quy định xử lý vi phạm về chất lượng sản phẩm, hàng hóa hiện đang áp dụng biện pháp phạt tiền trực tiếp căn cứ trên giá trị lô hàng vi phạm thay vì ấn định một mức tiền cố định chung.

Theo khoản 3 Điều 66, mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm chất lượng được quy định cụ thể:

Biện pháp xử phạtCăn cứ áp dụngChi tiết quy định
Phạt tiền tối thiểuTheo khoản 3 Điều 66Ít nhất bằng giá trị sản phẩm, hàng hóa vi phạm
Phạt tiền tối đaTheo khoản 3 Điều 66Nhiều nhất không quá năm lần giá trị sản phẩm, hàng hóa vi phạm
Tịch thu tang vật, tài chínhTheo khoản 3 Điều 66Tiền do vi phạm mà có sẽ bị tịch thu theo quy định của pháp luật
Trách nhiệm hình sựTheo khoản 2 Điều 66Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Các chế tài xử lý bổ sung và công khai vi phạm

Ngoài hình thức phạt tiền, doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh vi phạm còn phải chịu nhiều biện pháp xử lý nghiêm khắc nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và cảnh báo xã hội.

Theo khoản 2 Điều 66, tổ chức vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Đồng thời, cơ quan chức năng sẽ tiến hành công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và phương tiện thông tin đại chúng danh sách tổ chức, cá nhân vi phạm về chất lượng hàng hóa.

Quy định về miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Đối với tổ chức, cá nhân bán hàng, pháp luật có phân định rõ các trường hợp không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại liên quan đến khuyết tật hàng hóa.

Cụ thể, theo khoản 2 quy định sửa đổi về bồi thường thiệt hại, bên bán hàng không phải bồi thường trong các tình huống sau:

  • Thiệt hại xảy ra do người tiêu dùng cố ý sử dụng hàng hóa đã hết hạn sử dụng hoặc biết rõ hàng hóa có khuyết tật mà vẫn sử dụng (theo điểm a khoản 2).
  • Đã hết thời hiệu khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật (theo điểm b khoản 2).
  • Hàng hóa có khuyết tật phát sinh do tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tuân thủ quy định bắt buộc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại thời điểm sản xuất, nhập khẩu (theo điểm c khoản 2).
  • Thiệt hại phát sinh hoàn toàn do lỗi của người tiêu dùng (theo điểm d khoản 2).
Ảnh minh họa AI: phí thủ tục, góc không gian xử lý
Góc Luật · Ảnh minh họa AI

Nguồn để đối chiếu

Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.

Mở nguồn chính thức

Bài viết liên quan

Xem thêm