Cấm cắt giảm tiền làm thêm giờ, làm việc ban đêm của người lao động
Nghị định 399/2026/NĐ-CP nêu rõ người sử dụng lao động không được xoá bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và các chế độ khác theo quy định pháp luật.
Mục lục nội dungThu gọn
Hành vi bị nghiêm cấm đối với người sử dụng lao động
Theo khoản 3 Điều 5, khi thực hiện các quy định về tiền lương tối thiểu, người sử dụng lao động không được xoá bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động.
Quy định này đặt ra giới hạn pháp lý trực tiếp, ngăn chặn tình trạng doanh nghiệp tìm cách bù trừ chi phí điều chỉnh lương bằng việc cắt bớt các khoản đãi ngộ làm thêm giờ, làm việc ban đêm hoặc chế độ bồi dưỡng độc hại bằng hiện vật vốn thuộc quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trách nhiệm rà soát hợp đồng và thỏa ước lao động
Để đảm bảo quyền lợi cho người lao động và tuân thủ đúng khung pháp lý, khoản 3 Điều 5 quy định rõ: Người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức rà soát lại các thoả thuận trong hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể và các quy chế, quy định của người sử dụng lao động để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.
Bộ phận nhân sự và ban lãnh đạo doanh nghiệp phải chủ động kiểm tra toàn bộ hồ sơ quan hệ lao động nội bộ, từ đó tiến hành sửa đổi, bổ sung các điều khoản chưa tương thích trước thời điểm quy định mới chính thức vận hành trên thực tế.
Nguyên tắc duy trì các điều khoản có lợi hơn cho người lao động
Đối với các quyền lợi người lao động đang được hưởng cao hơn tiêu chuẩn thông thường theo hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể hoặc các thoả thuận hợp pháp khác, khoản 3 Điều 5 quy định các bên tiếp tục thực hiện, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Bảng phân loại các chế độ có lợi hơn được ghi nhận tại khoản 3 Điều 5 bao gồm:
| Nhóm công việc, chức danh | Mức chênh lệch tối thiểu được bảo lưu | Căn cứ áp dụng |
|---|---|---|
| Công việc hoặc chức danh đòi hỏi qua học tập, đào tạo nghề | Cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu | khoản 3 Điều 5 |
| Công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm | Cao hơn ít nhất 5% so với mức lương của công việc có độ phức tạp tương đương trong điều kiện bình thường | khoản 3 Điều 5 |
| Công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm | Cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của công việc có độ phức tạp tương đương trong điều kiện bình thường | khoản 3 Điều 5 |
Đối tượng áp dụng và hiệu lực thi hành
Theo Điều 1, phạm vi điều chỉnh bao gồm mức lương tối thiểu tháng và mức lương tối thiểu giờ theo vùng áp dụng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.
Đối tượng áp dụng theo quy định tại Điều 2 bao gồm:
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động (theo khoản 1 Điều 2).
- Người sử dụng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động, gồm: doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp; cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận (theo khoản 2 Điều 2).
- Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện mức lương tối thiểu (theo khoản 3 Điều 2).
Về lộ trình áp dụng, theo khoản 1 Điều 5, văn bản sắp có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2027. Khi văn bản này có hiệu lực, theo khoản 2 Điều 5, Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm 2025 sẽ chính thức hết hiệu lực thi hành. Trách nhiệm thi hành thuộc về các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và người sử dụng lao động theo khoản 4 Điều 5.
Nguồn để đối chiếu
Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.
Mở nguồn chính thức