Đến nội dung chính
Góc LuậtThông tin có nguồn · Biên tập có trách nhiệm
Tra cứu văn bản Văn bản đã lưu (0) Thông báoĐăng nhậpĐăng ký

Trường nghề phải đạt trên 50% người học ngành đặc thù để xếp loại riêng

Theo Nghị quyết 42/2026/NQ-CP, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập phải đạt trên 50% quy mô người học chính quy ngành đặc thù bình quân 3 năm gần nhất để phục vụ công tác sắp xếp, tổ chức lại.

Mục lục nội dungThu gọn

Chính phủ đã ban hành Nghị quyết quy định cụ thể các tiêu chí xác định cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thuộc lĩnh vực đặc thù. Kết quả này được sử dụng trực tiếp phục vụ việc xây dựng, lựa chọn và thực hiện phương án sắp xếp, tổ chức lại hệ thống mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập theo Điều 1 Nghị quyết 42/2026/NQ-CP.

Các mốc số liệu định lượng giữ vai trò then chốt trong quá trình rà soát, thẩm định hồ sơ của từng đơn vị đào tạo nghề trên cả nước.

Con số 6: Các lĩnh vực, ngành, nghề mặc định có yêu cầu đặc thù

Theo khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 42/2026/NQ-CP, pháp luật về giáo dục và đào tạo xác định cụ thể 6 lĩnh vực, ngành, nghề có yêu cầu đặc thù bao gồm:

  • Đào tạo giáo viên;
  • Pháp luật;
  • Sức khỏe;
  • Nghệ thuật;
  • Thể dục, thể thao;
  • An ninh, quốc phòng.

Đối với các cơ sở đào tạo công lập tập trung đào tạo nhóm ngành này, việc xác định tư cách thuộc lĩnh vực đặc thù sẽ căn cứ trực tiếp vào danh mục định sẵn thay vì phải qua bước chứng minh tính chất ngành nghề.

Con số 3: Các tiêu chí bổ sung để xác định ngành, nghề đặc thù khác

Trường hợp các lĩnh vực, ngành, nghề không thuộc 6 nhóm kể trên, theo khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 42/2026/NQ-CP, ngành nghề đó vẫn được xác định có tính đặc thù nếu thỏa mãn đồng thời 3 tiêu chí:

STTTiêu chí xác định ngành, nghề đặc thù khácCăn cứ pháp lý
1Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ các chương trình, dự án, ngành, lĩnh vực trọng điểm, hạ tầng chiến lược quốc gia.Điểm a khoản 2 Điều 3
2Được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo hoặc có yêu cầu đào tạo, phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu đặc thù của cơ quan nhà nước, ngành, lĩnh vực.Điểm b khoản 2 Điều 3
3Có yêu cầu đặc biệt về quản lý chất lượng đào tạo, chuẩn đầu ra, điều kiện bảo đảm chất lượng hoặc cơ chế kiểm soát riêng nhằm đáp ứng yêu cầu của ngành, lĩnh vực sử dụng nhân lực.Điểm c khoản 2 Điều 3

Quy định mở này cho phép các trường đào tạo kỹ thuật, công nghệ gắn với các dự án trọng điểm quốc gia có cơ sở pháp lý khẳng định tính chất đặc thù trong đào tạo.

Con số trên 50%: Ngưỡng quy mô học viên quyết định

Chỉ tiêu quan trọng nhất đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập nằm ở cơ cấu người học. Theo khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 42/2026/NQ-CP, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập phải có trên 50% quy mô người học chính quy thuộc các ngành, nghề đào tạo đặc thù quy định tại Điều 3.

Quy định tỷ lệ trên 50% mang ý nghĩa sàng lọc quyết định. Trường nghề dù đào tạo ngành nghề thuộc nhóm đặc thù nhưng quy mô đào tạo chính quy nhóm ngành này chiếm từ 50% trở xuống sẽ không đủ điều kiện để được xếp loại vào nhóm cơ sở thuộc lĩnh vực đặc thù phục vụ sắp xếp tổ chức bộ máy.

Con số 03 năm: Giai đoạn tính bình quân quy mô đào tạo

Tỷ lệ trên 50% người học chính quy không tính riêng lẻ tại một thời điểm tuyển sinh mà phải được tính bình quân trong 03 năm gần nhất theo khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 42/2026/NQ-CP.

Mốc 03 năm liên tiếp đòi hỏi tính ổn định và liên tục trong định hướng chuyên môn của cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập. Quy định này ngăn chặn tình trạng tăng đột biến chỉ tiêu tuyển sinh mang tính đối phó trước các đợt rà soát tổ chức lại bộ máy.

3 tiêu chí bắt buộc để cơ sở đào tạo được xác định thuộc lĩnh vực đặc thù

Để được chính thức xác định thuộc lĩnh vực đặc thù phục vụ sắp xếp, tổ chức lại, cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập phải đáp ứng đầy đủ cả 3 tiêu chí theo Điều 4 Nghị quyết 42/2026/NQ-CP:

  1. Tiêu chí về quy mô người học: Đạt trên 50% quy mô người học chính quy thuộc ngành, nghề đào tạo đặc thù tính bình quân 03 năm gần nhất hoặc từ khi thành lập nếu dưới 03 năm theo khoản 1 Điều 4.
  2. Tiêu chí về vai trò và nhiệm vụ chuyên sâu: Được cơ quan có thẩm quyền xác định vai trò nòng cốt trong đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu của lĩnh vực, ngành, nghề đặc thù hoặc giao chức năng, nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chuyên sâu thuộc lĩnh vực, ngành, nghề đặc thù để phục vụ trực tiếp yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước, ngành, lĩnh vực; bao gồm cơ sở giáo dục nghề nghiệp trực thuộc cơ quan, tổ chức có chức năng quản lý, phát triển nguồn nhân lực thuộc lĩnh vực, ngành, nghề đặc thù theo khoản 2 Điều 4.
  3. Tiêu chí về định hướng đầu ra: Nguồn nhân lực được đào tạo thuộc lĩnh vực, ngành, nghề đặc thù chịu sự định hướng, yêu cầu của cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực về tiêu chuẩn chuyên môn, cơ cấu nhân lực, vị trí việc làm hoặc yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành theo khoản 3 Điều 4.

Việc nắm rõ các số liệu then chốt gồm 6 ngành mặc định, 3 tiêu chí mở rộng, ngưỡng trên 50% học viên chính quy và chu kỳ đánh giá 03 năm giúp các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ động hoàn thiện hồ sơ phục vụ công tác tổ chức, sắp xếp mạng lưới theo đúng quy định.

Ảnh minh họa AI: trả kết quả, góc chi tiết công cụ
Góc Luật · Ảnh minh họa AI

Nguồn để đối chiếu

Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.

Mở nguồn chính thức

Bài viết liên quan

Xem thêm