Dự thảo5/11/2026
Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không dân dụng
Bộ Xây dựng đang dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không dân dụng. Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ xin giới thiệu toàn văn và đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu, đóng góp ý kiến.
Hồ sơ đã được xác minh
Ngày hiệu lực theo nguồn chưa đủ để kết luận quy định đang áp dụng.
Thuộc tính văn bản
- Cơ quan ban hành
- Bộ Xây dựng
- Loại văn bản
- Dự thảo
- Ngày ban hành
- Chưa rõ
- Ngày hiệu lực theo nguồn
- Chưa rõ
Tệp và phạm vi dữ liệu
Bản PDF gốc đã được lưu
Tải xuống334 KB, tải trực tiếp từ nguồn chính thức.
Xem trước PDF
Phát hiện lần đầu: 14:21:44 5/11/2026. Đối chiếu lại hiệu lực tại nguồn khi sử dụng.
Thông tin đã thu thập
Xem các trường dữ liệu tại nguồn
Bộ Xây dựng đang dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không dân dụng. Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ xin giới thiệu toàn văn và đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nghiên cứu, đóng góp ý kiến. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | Số: /2026/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày tháng năm 2026 | DỰ THẢO 00DỰ THẢO QUYẾT ĐỊNH Ban hành Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không dân dụng THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15; Căn cứ Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15; Căn cứ Luật Phòng thủ dân sự số 18/2023/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 98/2025/QH15 và Luật số 14/2026/QH16; Căn cứ Nghị định số 222/2026/NĐ-CP ngày 22 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ về hoạt động bay; Căn cứ Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự; Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng; Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định ban hành Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không dân dụng. Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không dân dụng. Điều 2. Hiệu lực thi hành 1. Quyết định này có hiệu lực thi hành từ ngày tháng năm 2026. 2. Quyết định số 33/2012/QĐ-TTg ngày 06 tháng 8 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không dân dụng hết hiệu lực kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực thi hành. Điều 3. Trách nhiệm thi hành Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các thành viên Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./. Nơi nhận: - Ban Bí thư Trung ương Đảng; - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; - Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; - HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; - Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; - Văn phòng Tổng Bí thư; Văn phòng Chủ tịch nước; - Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; Văn phòng Quốc hội; - Tòa án nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân tối cao; - Kiểm toán nhà nước; - Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; - Cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội; - Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia; Cục Hàng không Việt Nam; - VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo; - Lưu: VT, CN (2b). | THỦ TƯỚNG | THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | QUY CHẾ Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không dân dụng (Kèm theo Quyết định số /2026/QĐ-TTg ngày tháng năm 2026 của Thủ tướng Chính phủ) Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh 1. Quy chế này quy định nguyên tắc, nội dung, cơ chế phối hợp liên ngành, phối hợp giữa dân sự - lực lượng vũ trang; phối hợp quốc tế, huấn luyện, diễn tập và bảo đảm trong hoạt động tìm kiếm, cứu nạn đối với tàu bay thực hiện hoạt động hàng không dân dụng lâm nguy, lâm nạn; trách nhiệm phối hợp của Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. 2. Việc phối hợp tìm kiếm, cứu nạn tàu bay lâm nguy, lâm nạn trên biển được thực hiện theo Quy chế này và Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển do Thủ tướng Chính phủ ban hành. 3. Công tác khẩn nguy sân bay, đối phó với hành vi can thiệp bất hợp pháp vào hoạt động hàng không dân dụng và điều tra sự cố, tai nạn tàu bay được thực hiện theo quy định của pháp luật về cảng hàng không, an ninh hàng không, an toàn hàng không; Quy chế này chỉ quy định nội dung phối hợp giữa các hoạt động đó với hoạt động tìm kiếm, cứu nạn hàng không. Điều 2. Đối tượng áp dụng Quy chế này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến hoạt động tìm kiếm, cứu nạn tàu bay thực hiện hoạt động hàng không dân dụng lâm nguy, lâm nạn trong lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và trong vùng tìm kiếm, cứu nạn hàng không do Việt Nam đảm nhiệm. Điều 3. Giải thích từ ngữ Trong Quy chế này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau: 1. Tàu bay lâm nguy, tàu bay lâm nạn, tàu bay mất tích là tàu bay thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 48 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam. 2. Tìm kiếm hàng không là hoạt động sử dụng lực lượng, phương tiện, trang thiết bị và thông tin sẵn có để xác định vị trí tàu bay và người lâm nguy, lâm nạn, được tổ chức, điều phối theo phân công trách nhiệm tại Quy chế này. 3. Cứu nạn hàng không là hoạt động đưa người bị nạn thoát khỏi nguy hiểm đang đe dọa tính mạng, đáp ứng nhu cầu y tế ban đầu hoặc nhu cầu thiết yếu khác và đưa người bị nạn đến nơi an toàn. 4. Vùng tìm kiếm, cứu nạn hàng không của Việt Nam là vùng được xác định theo quy định tại Điều 129 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP ngày 22 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ về hoạt động bay (sau đây gọi là Nghị định số 222/2026/NĐ-CP), trong đó Việt Nam chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ tìm kiếm, cứu nạn hàng không. 5. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không (bao gồm các cơ sở cung cấp dịch vụ tìm kiếm, cứu nạn hàng không trực thuộc) thuộc doanh nghiệp bảo đảm hoạt động bay, là đầu mối phối hợp hoạt động tìm kiếm, cứu nạn hàng không theo quy định tại khoản 9 Điều 127 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP. 6. Trung tâm khẩn nguy sân bay là bộ phận do người khai thác cảng hàng không tổ chức để chỉ huy, điều phối công tác khẩn nguy, cứu nạn tại cảng hàng không và khu vực lân cận cảng hàng không theo kế hoạch khẩn nguy sân bay. 7. Khu vực lân cận cảng hàng không phục vụ tìm kiếm, cứu nạn là khu vực quy định tại điểm c khoản 7 Điều 3 của Nghị định số 205/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ về cảng hàng không và bãi cất, hạ cánh (sau đây gọi là Nghị định số 205/2026/NĐ-CP). 8. Giai đoạn khẩn cấp là thuật ngữ chung chỉ một trong ba giai đoạn sau đây (quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về quản lý và bảo đảm hoạt động bay gọi chung là các giai đoạn khẩn nguy); điều kiện xác định từng giai đoạn thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng: a) Giai đoạn hồ nghi (INCERFA) là tình huống có sự nghi ngờ về an toàn của tàu bay và những người trên tàu bay; b) Giai đoạn báo động (ALERFA) là tình huống có sự lo ngại về an toàn của tàu bay và những người trên tàu bay; c) Giai đoạn khẩn nguy (DETRESFA) là tình huống có cơ sở chắc chắn hợp lý rằng tàu bay và những người trên tàu bay đang bị đe dọa bởi nguy hiểm nghiêm trọng, cận kề và cần được trợ giúp ngay. 9. Cơ quan chủ trì tìm kiếm, cứu nạn hàng không (sau đây gọi là cơ quan chủ trì) là cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức, điều phối hoạt động tìm kiếm, cứu nạn đối với một tình huống cụ thể theo quy định tại Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP và Điều 7 của Quy chế này. 10. Người điều phối nhiệm vụ tìm kiếm, cứu nạn là người được cơ quan chủ trì phân công để điều phối việc ứng phó đối với một tình huống lâm nguy, lâm nạn thực tế hoặc có khả năng xảy ra; trường hợp Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không chủ trì tìm kiếm, người điều phối nhiệm vụ do Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không phân công. 11. Chỉ huy hiện trường là người được cơ quan chủ trì chỉ định để chỉ huy, điều phối các lực lượng, phương tiện tham gia tìm kiếm, cứu nạn trong một khu vực hiện trường xác định. 12. Người điều phối tàu bay tại hiện trường là người hoặc tổ bay được chỉ định để phối hợp hoạt động của các tàu bay, phương tiện bay không người lái cùng tham gia tìm kiếm, cứu nạn trong một khu vực; việc điều phối không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm của cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu, đơn vị chỉ huy, điều hành bay và người chỉ huy tàu bay. 13. Đơn vị tìm kiếm, cứu nạn là lực lượng gồm những người được huấn luyện và trang bị phương tiện, thiết bị phù hợp để thực hiện nhanh chóng hoạt động tìm kiếm, cứu nạn. 14. Trạm báo động là cơ quan, đơn vị làm trung gian tiếp nhận thông tin từ người thông báo về tình huống khẩn cấp và chuyển đến Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, bao gồm cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu, Tổng đài 112, đài thông tin duyên hải, đồn biên phòng, cơ quan quân sự, công an các cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã (xã, phường và đặc khu trực thuộc cấp tỉnh) và cơ quan, đơn vị khác được công bố. 15. Đầu mối tiếp nhận dữ liệu báo động Cospas-Sarsat là cơ quan trực 24 giờ trong ngày được chỉ định để tiếp nhận dữ liệu báo động từ hệ thống vệ tinh tìm kiếm, cứu nạn đối với các thiết bị phát tín hiệu khẩn nguy hoạt động trên tần số 406 MHz. 16. Phối hợp giữa dân sự - lực lượng vũ trang trong tìm kiếm, cứu nạn hàng không là việc cơ quan, đơn vị hàng không dân dụng và cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an trao đổi thông tin, chia sẻ dữ liệu, sử dụng vùng trời, hiệp đồng điều hành bay và huy động, sử dụng lực lượng, phương tiện để thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, cứu nạn hàng không. 17. Cứu nạn quy mô lớn là hoạt động cứu nạn đối với số lượng lớn người bị nạn cần trợ giúp ngay, vượt quá khả năng đáp ứng thông thường của cơ quan chủ trì và lực lượng tìm kiếm, cứu nạn tại chỗ. 18. Văn bản hiệp đồng tìm kiếm, cứu nạn hàng không (sau đây gọi là văn bản hiệp đồng) là văn bản thỏa thuận giữa Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không hoặc cơ quan, đơn vị ngành hàng không với cơ quan, đơn vị có liên quan về đầu mối liên lạc, phương thức thông báo, quy trình phối hợp và nguồn lực sẵn sàng tham gia tìm kiếm, cứu nạn hàng không. Điều 4. Nguyên tắc phối hợp 1. Tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Điều 127 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP; hoạt động tìm kiếm, cứu nạn hàng không đặt dưới sự chỉ đạo thống nhất của Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia. 2. Mỗi tình huống có một cơ quan chủ trì chung tại một thời điểm; cơ quan, đơn vị tham gia thực hiện nhiệm vụ chuyên ngành theo phân công, bảo đảm thống nhất điều phối. Việc chuyển giao trách nhiệm chủ trì phải được xác nhận giữa bên giao và bên nhận, không làm gián đoạn tìm kiếm, cứu nạn. Hoạt động tìm kiếm và hoạt động cứu nạn có thể được triển khai đồng thời; việc cứu người không phụ thuộc vào việc hoàn thành chuyển giao. 3. Việc phối hợp không làm thay đổi thẩm quyền quản lý nhà nước, thẩm quyền cấp phép bay, thẩm quyền chỉ huy lực lượng và trách nhiệm pháp lý của từng cơ quan, đơn vị. Lực lượng, phương tiện của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân tham gia tìm kiếm, cứu nạn do người chỉ huy của lực lượng đó trực tiếp chỉ huy và thực hiện nhiệm vụ theo sự điều phối của cơ quan chủ trì. 4. Hành động ban đầu để cứu người được triển khai ngay trong phạm vi thẩm quyền, không chờ hoàn tất thủ tục báo cáo, phê duyệt; việc báo cáo được thực hiện đồng thời hoặc ngay sau đó. 5. Trợ giúp người bị nạn không phân biệt quốc tịch, địa vị của người đó hoặc hoàn cảnh xảy ra tai nạn. 6. Ưu tiên cứu người trước việc bảo vệ tài sản và hiện trường; việc thay đổi hiện trường để cứu người được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 71 của Nghị định số 221/2026/NĐ-CP ngày 22 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ về Nhà chức trách hàng không Việt Nam và quản lý an toàn hàng không (sau đây gọi là Nghị định số 221/2026/NĐ-CP). 7. Thông tin về tình huống tìm kiếm, cứu nạn được trao đổi kịp thời, chính xác, qua đầu mối đã được công bố; việc phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí được thực hiện thống nhất theo quy định tại Điều 17 của Quy chế này. 8. Phù hợp và tuân thủ các thỏa thuận và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, tiêu chuẩn của Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) về tìm kiếm, cứu nạn và kế hoạch tìm kiếm, cứu nạn khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Điều 5. Vùng tìm kiếm, cứu nạn và phân định khu vực trách nhiệm 1. Vùng tìm kiếm, cứu nạn hàng không của Việt Nam được xác định theo quy định tại Điều 129 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP và được công bố trong Tập thông báo tin tức hàng không của Việt Nam. 2. Khu vực trách nhiệm tìm kiếm, cứu nạn hàng không được phân định như sau: a) Khu vực cảng hàng không và khu vực lân cận cảng hàng không; b) Khu vực trên biển thuộc vùng tìm kiếm, cứu nạn hàng không của Việt Nam; c) Khu quân sự; d) Khu vực trên đất liền, hải đảo không thuộc quy định tại các điểm a, b và c khoản này. 3. Cục Hàng không Việt Nam phân định cụ thể khu vực trách nhiệm tìm kiếm, cứu nạn hàng không và khẩn nguy sân bay của các đơn vị thuộc ngành hàng không theo quy định tại Điều 12 của Nghị định số 221/2026/NĐ-CP; sơ đồ kẻ lưới ô vuông cảng hàng không và khu vực lân cận cảng hàng không được người khai thác cảng hàng không lập, cập nhật trong kế hoạch khẩn nguy sân bay theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng; Cảng vụ hàng không giám sát việc lập, cập nhật. Việc phân định không làm thay đổi thẩm quyền, trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương theo quy định của pháp luật. 4. Tại phần vùng tìm kiếm, cứu nạn hàng không trùng với vùng tìm kiếm, cứu nạn hàng hải, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không và Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam thống nhất phương thức phối hợp bằng văn bản hiệp đồng, bảo đảm không bỏ sót và không chồng lấn trách nhiệm. 5. Trường hợp khu vực lân cận cảng hàng không trùng với khu vực trên biển, khu quân sự hoặc thuộc nhiều tỉnh, các cơ quan liên quan phải xác định trước cơ chế phối hợp trong kế hoạch, văn bản hiệp đồng trên cơ sở thẩm quyền quy định tại Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP và pháp luật có liên quan. Khi xảy ra tình huống chưa xác định được cơ quan chủ trì, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không thông báo ngay cho các cơ quan liên quan, Cục Hàng không Việt Nam báo cáo Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia xem xét, chỉ đạo; các lực lượng triển khai ứng cứu trong phạm vi nhiệm vụ, thẩm quyền, không chờ giải quyết xong việc phân định. Điều 6. Lực lượng, phương tiện tham gia tìm kiếm, cứu nạn hàng không 1. Lực lượng, phương tiện của ngành hàng không dân dụng: a) Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không (gồm các cơ sở hiệp đồng tìm kiếm, cứu nạn hàng không khu vực trực thuộc) và các đơn vị, cơ sở có liên quan của Doanh nghiệp bảo đảm hoạt động bay; b) Trung tâm khẩn nguy sân bay, lực lượng khẩn nguy, cứu nạn, chữa cháy của người khai thác cảng hàng không; c) Tàu bay, phương tiện bay không người lái, tổ bay và lực lượng, phương tiện khác của người khai thác tàu bay, doanh nghiệp hàng không chung và đơn vị khác trong ngành hàng không. 2. Lực lượng, phương tiện chuyên trách, kiêm nhiệm của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; lực lượng, phương tiện tìm kiếm, cứu nạn hàng hải, kiểm ngư, y tế và lực lượng của các bộ, ngành trung ương, địa phương theo quy định tại Điều 35 của Luật Phòng thủ dân sự. 3. Dân quân tự vệ, dân phòng; lực lượng, phương tiện của tổ chức, cá nhân được huy động theo quy định tại Điều 21 của Luật Phòng thủ dân sự. 4. Lực lượng, phương tiện nước ngoài được phép tham gia theo quy định tại Chương VI của Quy chế này. 5. Các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương định kỳ hằng năm rà soát, báo cáo Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia danh mục lực lượng, phương tiện có khả năng tham gia tìm kiếm, cứu nạn hàng không, vị trí, tính năng, giới hạn hoạt động, mức độ sẵn sàng, thời gian dự kiến xuất phát và đầu mối liên lạc trực 24 giờ trong ngày; cập nhật ngay khi có thay đổi ảnh hưởng đến khả năng huy động, ứng cứu. Thông tin thuộc bí mật nhà nước được cung cấp, quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Điều 7. Cơ quan chủ trì và chuyển giao trách nhiệm chủ trì 1. Cơ quan chủ trì được xác định theo địa bàn, tính chất tình huống và quy định tại Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP. Khi chưa xác định được vị trí hoặc khu vực tàu bay lâm nguy, lâm nạn, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không tiếp nhận báo động, chủ động tổ chức các biện pháp tìm kiếm ban đầu trong phạm vi nhiệm vụ, thông báo và phối hợp ngay với các cơ quan có khả năng liên quan. Trường hợp trên biển thực hiện theo Điều 26; trường hợp tại cảng hàng không, khu vực lân cận cảng hàng không hoặc trong khu quân sự thực hiện theo khoản 5 Điều này. Hoạt động cứu nạn được triển khai ngay khi có người cần trợ giúp, kể cả khi việc tìm kiếm tàu bay hoặc những người khác vẫn đang tiếp tục. 2. Đối với trường hợp thuộc điểm b khoản 3 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không chủ trì công tác tìm kiếm xác định vị trí tàu bay lâm nạn và có trách nhiệm: a) Chủ trì xác định, cập nhật khu vực ưu tiên tìm kiếm trên cơ sở thông tin chuyến bay, dữ liệu giám sát, tín hiệu báo động và thông tin liên quan; b) Lập phương án tìm kiếm, kế hoạch bay tìm kiếm, cứu nạn theo quy định tại Điều 23 của Quy chế này; c) Thông báo cho các cơ quan quy định tại Điều 14 của Quy chế này; đề nghị huy động, điều động lực lượng, phương tiện theo quy định tại Điều 19 và Điều 24 của Quy chế này; d) Lập kế hoạch điều phối lực lượng, phương tiện tham gia tìm kiếm; phối hợp, hiệp đồng với Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực ưu tiên tìm kiếm, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam và cơ quan, đơn vị liên quan. 3. Khi xác định được vị trí tàu bay lâm nạn, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không phối hợp, thông báo ngay với cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận chủ trì cứu nạn; đề nghị huy động lực lượng, phương tiện theo Phương án tìm kiếm cứu nạn đã phê duyệt, tham gia công tác cứu nạn tại hiện trường (trừ khu quân sự tại điểm c khoản này) theo các trường hợp sau đây: a) Doanh nghiệp cảng hàng không thực hiện trách nhiệm chủ trì tại cảng hàng không và khu vực lân cận cảng hàng không theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP; việc tổ chức thực hiện thông qua người khai thác cảng hàng không, Trung tâm khẩn nguy sân bay theo kế hoạch khẩn nguy sân bay; b) Cơ quan chủ trì tìm kiếm, cứu nạn trên biển thực hiện trách nhiệm theo Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển; việc phối hợp không chờ đến khi xác định được vị trí chính xác của tàu bay; c) Bộ Quốc phòng, nếu vị trí thuộc khu quân sự, theo quy định tại khoản 4 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP; d) Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tàu bay lâm nạn, nếu vị trí thuộc đất liền, hải đảo ngoài các khu vực quy định tại các điểm a, b và c khoản này, theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP; trường hợp vị trí thuộc khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 27 của Quy chế này. 4. Đối với trường hợp phải chuyển giao trách nhiệm chủ trì, nội dung chuyển giao gồm: thông tin tàu bay, người trên tàu bay; vị trí, thời điểm và mức độ tin cậy của thông tin vị trí; diễn biến, kết quả tìm kiếm; người còn mất tích, người đã được cứu; phương án, kế hoạch bay đang thực hiện; lực lượng, phương tiện; phương thức liên lạc; nguy cơ tại hiện trường và nhiệm vụ cần tiếp tục. Chuyển giao được thực hiện bằng phương tiện nhanh nhất, hoàn thành khi bên nhận xác nhận; hai bên ghi người giao, người nhận, thời điểm và nội dung tiếp nhận vào nhật ký. Trước thời điểm đó, bên giao tiếp tục điều phối trong phạm vi nhiệm vụ; các lực lượng triển khai ngay cứu người. Khi bên nhận chưa phản hồi hoặc chưa đủ khả năng tiếp nhận, bên giao báo cáo ngay cấp có thẩm quyền để chỉ đạo, không để gián đoạn hoạt động. 5. Trường hợp có căn cứ xác định tàu bay lâm nguy, lâm nạn tại cảng hàng không, khu vực lân cận cảng hàng không hoặc trong khu quân sự, cơ quan quy định tại điểm a hoặc điểm c khoản 3 Điều này chủ trì tìm kiếm, cứu nạn ngay từ đầu theo quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP; Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không thực hiện thông báo theo Điều 14, hỗ trợ lập phương án tìm kiếm, kế hoạch bay tìm kiếm, cứu nạn khi được đề nghị. 6. Sau khi chuyển giao, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không tiếp tục là đầu mối nghiệp vụ tìm kiếm, cứu nạn hàng không; theo dõi, giám sát nghiệp vụ hàng không trong toàn bộ các giai đoạn hoạt động tìm kiếm, cứu nạn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng; đề xuất cơ quan chủ trì điều chỉnh phương án khi cần thiết; hỗ trợ cơ quan chủ trì về thông tin chuyến bay, tính toán khu vực tìm kiếm, phối hợp hoạt động của tàu bay và liên lạc với cơ quan tìm kiếm, cứu nạn nước ngoài. Việc tìm kiếm người còn mất tích là một phần của hoạt động cứu nạn, tiếp tục được thực hiện theo phương án thống nhất với cơ quan chủ trì. Việc tìm kiếm tàu bay, bộ phận tàu bay, thiết bị ghi dữ liệu phục vụ điều tra thực hiện theo Điều 30 của Quy chế này. 7. Trường hợp tàu bay lâm nguy, lâm nạn tại khu vực giáp ranh giữa vùng tìm kiếm, cứu nạn hàng không của Việt Nam với quốc gia kế cận, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không thực hiện việc phối hợp, chuyển giao theo thỏa thuận tìm kiếm, cứu nạn đã ký kết; trường hợp chưa có thỏa thuận thì phối hợp theo tiêu chuẩn của ICAO và báo cáo Cục Hàng không Việt Nam. 8. Trường hợp vượt quá khả năng ứng phó, cơ quan chủ trì báo cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP và điểm d khoản 3 Điều 33 của Luật Phòng thủ dân sự. Chương II CƠ CHẾ CHỈ ĐẠO, ĐIỀU PHỐI LIÊN NGÀNH Điều 8. Hệ thống chỉ đạo, chỉ huy và điều phối 1. Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia chỉ đạo thống nhất hoạt động tìm kiếm, cứu nạn hàng không trên phạm vi cả nước; Bộ Quốc phòng là cơ quan thường trực, Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia là đầu mối tiếp nhận báo cáo, tham mưu huy động và điều phối lực lượng, phương tiện của các bộ, ngành, địa phương theo quy định tại Điều 5 của Nghị định số 200/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 7 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng thủ dân sự (sau đây gọi là Nghị định số 200/2025/NĐ-CP). 2. Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các bộ, cơ quan ngang bộ tham mưu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ chỉ đạo, huy động lực lượng, phương tiện thuộc quyền tham gia tìm kiếm, cứu nạn hàng không. Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự Bộ Xây dựng là đầu mối tham mưu chỉ đạo, tổng hợp nhu cầu và phối hợp huy động nguồn lực thuộc phạm vi quản lý của Bộ; Cục Hàng không Việt Nam thực hiện nhiệm vụ đầu mối chuyên ngành theo Điều 9 của Quy chế này. 3. Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chỉ huy lực lượng trên địa bàn; chủ trì cứu nạn tàu bay lâm nạn theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP. Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là đầu mối tiếp nhận thông tin từ Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không. 4. Cục Hàng không Việt Nam thực hiện chức năng của Nhà chức trách hàng không Việt Nam về tìm kiếm, cứu nạn hàng không theo quy định tại Điều 12 của Nghị định số 221/2026/NĐ-CP. 5. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không thực hiện trách nhiệm chủ trì tìm kiếm trong các trường hợp quy định tại Điều 7; chủ trì xác định khu vực ưu tiên tìm kiếm trên biển theo Điều 26 của Quy chế này. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không là đầu mối nghiệp vụ, trực 24 giờ trong ngày, trao đổi trực tiếp với cơ quan thường trực, cơ quan tác chiến, trực ban của các bộ, ngành, địa phương và trung tâm phối hợp cứu nạn của nước ngoài trong phạm vi nhiệm vụ được giao. 6. Trung tâm khẩn nguy sân bay chỉ huy, điều phối tại cảng hàng không và khu vực lân cận cảng hàng không theo kế hoạch khẩn nguy sân bay. Điều 9. Tham mưu chuyên ngành và phối hợp thường xuyên về tìm kiếm, cứu nạn hàng không 1. Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia thực hiện việc chỉ đạo, điều phối liên ngành ở cấp quốc gia đối với công tác tìm kiếm, cứu nạn hàng không. Quy chế này không thành lập tổ chức phối hợp liên ngành khác. 2. Bộ trưởng Bộ Xây dựng, với trách nhiệm thành viên Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia quy định tại khoản 2 Điều 34 của Luật Phòng thủ dân sự, chủ trì tham mưu cho Ban Chỉ đạo về tìm kiếm, cứu nạn hàng không, bao gồm: a) Đề xuất hoàn thiện chính sách, pháp luật, Kế hoạch tìm kiếm, cứu nạn hàng không quốc gia; b) Đánh giá năng lực, xác định thiếu hụt và kiến nghị giải pháp bảo đảm lực lượng, phương tiện tìm kiếm, cứu nạn hàng không; c) Phối hợp hài hòa hoạt động tìm kiếm, cứu nạn hàng không với tìm kiếm, cứu nạn hàng hải và tăng cường phối hợp giữa dân sự - lực lượng vũ trang; d) Theo dõi, báo cáo việc thực hiện tiêu chuẩn của ICAO và kế hoạch tìm kiếm, cứu nạn khu vực châu Á - Thái Bình Dương. 3. Đầu mối phối hợp thường xuyên của các bộ, ngành là cơ quan, đơn vị được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan phân công. Cục Hàng không Việt Nam là đầu mối tham mưu, hướng dẫn, phối hợp chuyên ngành tìm kiếm, cứu nạn hàng không của Bộ Xây dựng; tổng hợp thông tin, đề xuất biện pháp chuyên môn và phối hợp với Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự Bộ Xây dựng về huy động nguồn lực. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện phối hợp thông qua Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cùng cấp. 4. Bộ Xây dựng thống nhất với cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia tổ chức họp chuyên đề cấp nghiệp vụ về tìm kiếm, cứu nạn hàng không ít nhất một lần trong năm và sau mỗi vụ việc tìm kiếm, cứu nạn hàng không nghiêm trọng hoặc diễn tập cấp quốc gia. Thành phần gồm đầu mối của các bộ, ngành quy định tại khoản 3 Điều này, Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam, đầu mối tiếp nhận dữ liệu báo động Cospas-Sarsat, doanh nghiệp bảo đảm hoạt động bay, người khai thác cảng hàng không, các hãng hàng không Việt Nam và cơ quan, tổ chức khác khi cần thiết. Kết quả, kiến nghị được báo cáo Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia qua cơ quan thường trực. Điều 10. Kế hoạch tìm kiếm, cứu nạn hàng không quốc gia và hệ thống kế hoạch, phương án 1. Kế hoạch tìm kiếm, cứu nạn hàng không quốc gia do Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng và các bộ, ngành liên quan xây dựng, báo cáo Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia để trình Trưởng Ban Chỉ đạo ban hành; được rà soát hằng năm và cập nhật khi có thay đổi. Kế hoạch có các nội dung chủ yếu sau đây: a) Vùng tìm kiếm, cứu nạn hàng không; Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, các cơ sở hiệp đồng khu vực, đầu mối tiếp nhận dữ liệu báo động Cospas-Sarsat và các trạm báo động; b) Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền, trách nhiệm chỉ đạo, điều phối và hỗ trợ tìm kiếm, cứu nạn; c) Lực lượng, phương tiện, trang thiết bị cần có và hiện có; phương án huy động, sử dụng, bảo đảm hậu cần, nhiên liệu; d) Phương thức phối hợp giữa dân sự - lực lượng vũ trang, hàng không - hàng hải; phương án cứu nạn quy mô lớn và ứng phó tại khu vực biển xa, vùng núi cao, rừng sâu; đ) Hệ thống tài liệu, quy trình; chương trình huấn luyện, diễn tập; cơ chế đánh giá, cải tiến chất lượng; e) Danh mục thỏa thuận với quốc gia kế cận; cơ quan có thẩm quyền, đầu mối trực, thông tin cần cung cấp và trình tự phối hợp để xin chấp thuận cho lực lượng, phương tiện nước ngoài vào Việt Nam; phương thức phối hợp thủ tục biên phòng, xuất nhập cảnh, hải quan, kiểm dịch; g) Phương án duy trì hoạt động của hệ thống điều phối khi cơ sở chính bị gián đoạn; phân bổ nguồn lực khi có nhiều tình huống đồng thời; phương thức chia sẻ dữ liệu và cập nhật trạng thái lực lượng. 2. Kế hoạch tìm kiếm, cứu nạn hàng không quốc gia phải thống nhất với Kế hoạch phòng thủ dân sự quốc gia; là cơ sở để các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lồng ghép nội dung ứng phó tai nạn tàu bay vào kế hoạch phòng thủ dân sự của mình. 3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng phương án cứu nạn tàu bay lâm nạn trên địa bàn; phương án phải có ý kiến tham gia của Cục Hàng không Việt Nam, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không và người khai thác cảng hàng không trên địa bàn (nếu có). 4. Kế hoạch khẩn nguy sân bay của người khai thác cảng hàng không phải xác định rõ phương thức phối hợp với Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và lực lượng quân đội, công an, y tế trên địa bàn đối với tình huống tàu bay lâm nạn trong khu vực lân cận cảng hàng không. Kế hoạch khẩn nguy sân bay được phê duyệt theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng; tại sân bay dùng chung, phải có ý kiến thống nhất của đơn vị quản lý sân bay của lực lượng vũ trang theo khoản 2 Điều 22 của Quy chế này. 5. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không xây dựng, cập nhật Kế hoạch tìm kiếm, cứu nạn hàng không trong vùng trách nhiệm được giao, trình Cục Hàng không Việt Nam ban hành theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng; kế hoạch phải phù hợp với Kế hoạch tìm kiếm, cứu nạn hàng không quốc gia, bao gồm việc xử lý nhiều tình huống đồng thời, ưu tiên nguồn lực; duy trì hoạt động khi cơ sở bị mất điện, mất liên lạc, mất dữ liệu hoặc không thể tiếp tục sử dụng; đầu mối, địa điểm dự phòng, điều kiện kích hoạt, bàn giao dữ liệu và phục hồi hoạt động. Kế hoạch được rà soát sau diễn tập, vụ việc thực tế và khi có thay đổi ảnh hưởng đến khả năng ứng phó. Điều 11. Văn bản hiệp đồng 1. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không ký kết, duy trì văn bản hiệp đồng với các cơ quan, đơn vị sau đây: a) Cơ quan quản lý, điều hành bay quân sự cấp quốc gia và khu vực; cơ quan cứu hộ, cứu nạn của Bộ Quốc phòng; các quân chủng, binh chủng, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam và đơn vị quân đội có tàu bay, tàu thuyền, phương tiện có khả năng tham gia tìm kiếm, cứu nạn; b) Đơn vị thuộc Bộ Công an có tàu bay, lực lượng cứu nạn, cứu hộ; c) Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam; đầu mối tiếp nhận dữ liệu báo động Cospas-Sarsat; hệ thống đài thông tin duyên hải; Cảng vụ hàng hải đối với vùng nước cảng biển; d) Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đ) Người khai thác cảng hàng không, người khai thác tàu bay, doanh nghiệp hàng không chung và tổ chức khác có lực lượng, phương tiện phù hợp. 2. Văn bản hiệp đồng có các nội dung tối thiểu: đầu mối liên lạc trực 24 giờ trong ngày; phương tiện liên lạc chính, dự phòng; mẫu tin, trình tự thông báo, xác nhận đã nhận và xử lý khi không có phản hồi; thủ tục đề nghị, tiếp nhận hỗ trợ; lực lượng, phương tiện, giới hạn hoạt động, thời gian sẵn sàng xuất phát; phân công và chuyển giao trách nhiệm; phương thức điều phối tại hiện trường, phối hợp với cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu; trao đổi sĩ quan liên lạc; huấn luyện, diễn tập; bảo vệ dữ liệu, bí mật nhà nước. Văn bản hiệp đồng không thay thế quyết định huy động, điều động, cấp phép của cơ quan có thẩm quyền. 3. Văn bản hiệp đồng được rà soát ít nhất một lần trong năm và ngay sau khi có thay đổi về tổ chức, đầu mối liên lạc của một trong các bên. 4. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo cơ quan, đơn vị thuộc quyền ký kết và thực hiện văn bản hiệp đồng. Chương III PHỐI HỢP VỀ THÔNG TIN, BÁO ĐỘNG Điều 12. Trách nhiệm thông báo của tổ chức, cá nhân 1. Tổ chức, cá nhân phát hiện hoặc nhận được thông tin về tàu bay lâm nguy, lâm nạn phải thông báo ngay cho một trong các cơ quan, đơn vị sau đây: Tổng đài 112, Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, cơ quan quân sự, công an, đồn biên phòng, cơ sở tìm kiếm, cứu nạn hàng hải, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu, hoặc cơ quan, đơn vị ngành hàng không nơi gần nhất. 2. Cơ quan, đơn vị tiếp nhận thông tin quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm chuyển ngay thông tin đến Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không; đồng thời thực hiện trách nhiệm báo cáo theo quy định tại Điều 67 của Nghị định số 221/2026/NĐ-CP và Điều 4 của Nghị định số 200/2025/NĐ-CP. 3. Nội dung thông báo gồm: họ tên, địa chỉ, phương thức liên lạc của người thông báo; thời gian, địa điểm, hiện tượng quan sát được; tình trạng tàu bay và người bị nạn (nếu biết); điều kiện thời tiết, địa hình tại khu vực. 4. Cục Hàng không Việt Nam công bố và cập nhật số điện thoại, phương tiện liên lạc khẩn cấp của Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không trong Tập thông báo tin tức hàng không và trên phương tiện thông tin đại chúng. Điều 13. Hệ thống thông tin phục vụ tìm kiếm, cứu nạn hàng không 1. Hệ thống thông tin phục vụ tìm kiếm, cứu nạn hàng không bao gồm: a) Hệ thống liên lạc không - địa, liên lạc dữ liệu giữa tàu bay với cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu; b) Hệ thống giám sát hàng không dân dụng; hệ thống ra đa, phương tiện giám sát của Quân đội nhân dân hoạt động theo yêu cầu nhiệm vụ; c) Hệ thống vệ tinh tìm kiếm, cứu nạn Cospas-Sarsat và đầu mối tiếp nhận dữ liệu báo động Cospas-Sarsat tại Việt Nam; d) Hệ thống theo dõi tàu bay toàn cầu, dữ liệu vị trí của tàu bay lâm nguy do thiết bị tự động phát và kho dữ liệu vị trí tàu bay lâm nguy theo tiêu chuẩn của ICAO; đ) Hệ thống Tổng đài 112 và các Tổng đài 113, 114, 115; hệ thống đài thông tin duyên hải; mạng viễn thông cố định hàng không; mạng thông tin của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân được phép kết nối; e) Hệ thống thông tin của người khai thác tàu bay, trung tâm điều hành khai thác của hãng hàng không và hệ thống thông tin khác. 2. Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, cơ quan quản lý, điều hành bay quân sự và Tổng đài 112, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu, đầu mối tiếp nhận dữ liệu báo động Cospas-Sarsat, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam, duy trì đầu mối trực 24 giờ trong ngày và duy trì ít nhất hai phương thức liên lạc độc lập phù hợp nhiệm vụ. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không bảo đảm khả năng trao đổi nghiệp vụ bằng tiếng Việt, tiếng Anh; các đầu mối khác bảo đảm tiếp nhận, chuyển tiếp thông tin và hỗ trợ ngôn ngữ theo phương án hiệp đồng. 3. Bộ Xây dựng chỉ đạo đầu mối tiếp nhận dữ liệu báo động Cospas-Sarsat bảo đảm cung cấp thông tin tới Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không. Doanh nghiệp bảo đảm hoạt động bay thiết lập và bảo đảm cho Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không tiếp cận dữ liệu vị trí tàu bay lâm nguy, hệ thống dữ liệu theo dõi tàu bay được phép khai thác; quy định trách nhiệm trực, xác nhận, kiểm chứng, bảo vệ và lưu trữ dữ liệu trong quy trình nghiệp vụ. Điều 14. Tiếp nhận, xử lý và chuyển tiếp tin báo động 1. Cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu khi xác định tàu bay ở vào một trong các giai đoạn khẩn cấp phải thông báo ngay cho Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không theo Điều 103 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP và quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về dịch vụ báo động; đồng thời thông báo cho cơ quan quản lý, điều hành bay quân sự liên quan để nắm bắt thông tin. 2. Đầu mối tiếp nhận dữ liệu báo động Cospas-Sarsat trực 24 giờ trong ngày, xác nhận ngay việc tiếp nhận dữ liệu với nơi gửi; chuyển ngay dữ liệu báo động liên quan đến tàu bay hoặc chưa xác định loại phương tiện trong vùng trách nhiệm đến Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không xác nhận đã nhận và triển khai đánh giá, ứng phó. Khi chưa nhận được xác nhận, bên gửi sử dụng phương thức hoặc đầu mối dự phòng theo văn bản hiệp đồng và tiếp tục liên lạc cho đến khi xác nhận thông tin đã được tiếp nhận, xử lý. 3. Tổng đài 112, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam, đài thông tin duyên hải, và các trạm báo động khác khi nhận được thông tin liên quan đến tàu bay lâm nguy, lâm nạn phải thông báo đến Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không. 4. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không khi nhận được tin báo động có trách nhiệm: a) Đánh giá, xác minh thông tin, xác định giai đoạn khẩn cấp và mức độ hành động cần thiết; việc xác minh không được làm chậm hành động ứng phó ban đầu; b) Thông báo ngay cho Cục Hàng không Việt Nam, Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, cơ quan quản lý, điều hành bay quân sự cấp quốc gia, người khai thác tàu bay; c) Thông báo ngay cho Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương qua cơ quan thường trực nơi tàu bay lâm nạn hoặc nơi thuộc khu vực ưu tiên tìm kiếm; Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam khi tàu bay lâm nguy, lâm nạn trên biển hoặc có khả năng trên biển; Cảng vụ hàng không và Trung tâm khẩn nguy sân bay khi tàu bay lâm nguy, lâm nạn tại cảng hàng không, khu vực lân cận cảng hàng không hoặc dự kiến hạ cánh khẩn cấp; d) Thông báo cho Trung tâm phối hợp cứu nạn của quốc gia kế cận khi tình huống có thể liên quan đến vùng tìm kiếm, cứu nạn của quốc gia đó; đ) Cập nhật diễn biến cho các cơ quan đã được thông báo cho đến khi hủy bỏ giai đoạn khẩn cấp; thông báo ngay việc hủy bỏ khi tình huống khẩn cấp không còn. 5. Cơ quan, đơn vị nhận được thông báo của Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không có trách nhiệm xác nhận, triển khai hành động theo kế hoạch, phương án, văn bản hiệp đồng và thông báo lại cho Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không thông tin liên quan mà mình có được. Trường hợp chưa nhận được xác nhận, bên gửi sử dụng phương thức hoặc đầu mối dự phòng theo văn bản hiệp đồng và tiếp tục liên lạc cho đến khi thông tin được xác nhận đã tiếp nhận, xử lý. 6. Thông báo ban đầu được thực hiện ngay bằng trực thoại hoặc phương tiện nhanh nhất; thông tin bổ sung được cập nhật liên tục. Báo cáo xác nhận bằng văn bản hoặc văn bản điện tử được gửi trong thời hạn 24 giờ kể từ thông báo ban đầu. Thời hạn này không thay thế nghĩa vụ thông báo ngay và thời hạn báo cáo vụ việc, sự cố, tai nạn theo pháp luật chuyên ngành. 7. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không và Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam thông báo hai chiều cho nhau ngay khi nhận được thông tin về tàu bay lâm nguy, lâm nạn trên biển hoặc có khả năng trên biển. Nội dung trao đổi gồm vị trí hoặc khu vực dự kiến, thời điểm và mức độ tin cậy của dữ liệu, số người trên tàu bay, điều kiện thời tiết, lực lượng đã triển khai và những thay đổi của khu vực tìm kiếm. Cơ quan nhận tin đồng thời thực hiện biện pháp ban đầu theo thẩm quyền, không chỉ chuyển tiếp thông tin. 8. Khi người chỉ huy tàu bay quyết định xả nhiên liệu, thả vật thể trong trường hợp khẩn cấp theo khoản 2 Điều 55 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP, cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu thực hiện trách nhiệm theo khoản 3 Điều 55 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP; trường hợp việc xả nhiên liệu, thả vật thể có nguy cơ ảnh hưởng đến người, tài sản, công trình ở mặt đất, mặt nước hoặc liên quan đến tàu bay đang ở giai đoạn khẩn cấp, cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu thông báo ngay cho Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không để thông báo cho Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có khu vực bị ảnh hưởng triển khai biện pháp cảnh báo, bảo đảm an toàn theo thẩm quyền. Điều 15. Chia sẻ dữ liệu giám sát và thông tin chuyến bay giữa dân sự và quân sự 1. Khi tàu bay thực hiện hoạt động hàng không dân dụng mất liên lạc, mất dấu giám sát hoặc ở vào giai đoạn khẩn cấp, cơ quan quản lý, điều hành bay quân sự, đơn vị ra đa, đơn vị quản lý vùng trời của Bộ Quốc phòng khi được yêu cầu cung cấp cho Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu dữ liệu giám sát, vị trí cuối cùng ghi nhận được, hướng, độ cao, tốc độ của mục tiêu và thông tin liên quan khác trong phạm vi được phép. 2. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu cung cấp ngay cho cơ quan quản lý, điều hành bay quân sự kế hoạch bay, dữ liệu giám sát dân dụng, thông tin liên lạc cuối cùng và thông tin về người, hàng hóa nguy hiểm trên tàu bay. 3. Việc thiết lập, duy trì đường truyền trực thoại, đường truyền dữ liệu và phương thức chia sẻ phục vụ tìm kiếm, cứu nạn hàng không thực hiện theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 124 và Điều 125 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP; nội dung cụ thể được xác định trong văn bản hiệp đồng. 4. Dữ liệu do lực lượng vũ trang cung cấp chỉ được sử dụng cho mục đích tìm kiếm, cứu nạn, điều tra sự cố, tai nạn tàu bay và được quản lý theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Điều 16. Thông tin liên lạc trong tìm kiếm, cứu nạn hàng không 1. Việc sử dụng tần số phục vụ tìm kiếm, cứu nạn tuân thủ pháp luật về tần số vô tuyến điện và quy định chuyên ngành hàng không: tần số 121,5 MHz phục vụ cấp cứu, khẩn cấp; tần số 123,1 MHz phục vụ liên lạc phối hợp tìm kiếm, cứu nạn tại hiện trường; dải tần 406–406,1 MHz phục vụ thiết bị phát tín hiệu báo động khẩn nguy qua hệ thống Cospas-Sarsat. Tần số liên lạc hàng hải và các tần số khác được lựa chọn trong phạm vi được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Cơ quan chủ trì thống nhất phương án liên lạc chính, dự phòng và phổ biến cho lực lượng tham gia; không sử dụng dải tần báo động vệ tinh làm tần số liên lạc thoại. 2. Trừ trường hợp bất khả kháng, tổ lái tàu bay lâm nguy thông báo cho cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu trên tần số đang liên lạc hoặc tần số cấp cứu, khẩn cấp phù hợp; sử dụng máy phát đáp và thiết bị phát tín hiệu định vị khẩn nguy theo quy trình khai thác, quy định về xử lý tình huống khẩn cấp và huấn lệnh của cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu có liên quan. Khi đã loại trừ nguy hiểm, tổ lái thông báo ngay để cơ quan có trách nhiệm xem xét hủy bỏ báo động. 3. Tổ lái tàu bay đang bay khi thu được tín hiệu cấp cứu - khẩn cấp hoặc phát hiện tàu bay, phương tiện khác lâm nguy, lâm nạn phải thông báo ngay cho cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu; trong khả năng có thể, ghi nhận vị trí, duy trì liên lạc và thực hiện theo chỉ dẫn của cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không. 4. Nội dung điện cấp cứu - khẩn cấp gồm: loại tàu bay, số hiệu đăng ký, tên gọi chuyến bay; vị trí, thời gian, độ cao, hướng bay; tính chất tình huống khẩn cấp và ý định của người chỉ huy tàu bay; số người trên tàu bay; nhiên liệu còn lại; hàng hóa nguy hiểm (nếu có); yêu cầu trợ giúp; phương thức liên lạc còn sử dụng được. 5. Theo yêu cầu của Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu đề nghị tàu bay đang hoạt động gần khu vực tìm kiếm thu, chuyển tiếp thông tin và quan sát hỗ trợ. Điều 17. Cung cấp thông tin cho thân nhân, báo chí và thông báo quốc tế 1. Cục Hàng không Việt Nam là đầu mối tổng hợp thông tin chuyên ngành về tìm kiếm, cứu nạn hàng không, phối hợp với cơ quan chủ trì xác nhận nội dung trước khi cung cấp cho báo chí. Trong từng vụ việc, việc phát ngôn do người phát ngôn hoặc người được ủy quyền của cơ quan có trách nhiệm thực hiện theo pháp luật về phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí; các cơ quan thống nhất đầu mối cung cấp thông tin chung. Trường hợp Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia trực tiếp chỉ đạo, việc cung cấp thông tin chung thực hiện theo phân công của Ban Chỉ đạo. Thông tin về kết quả điều tra tai nạn do cơ quan có thẩm quyền điều tra cung cấp theo quy định. 2. Người khai thác tàu bay cung cấp ngay cho Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, cơ quan chủ trì danh sách tổ bay, hành khách, bản kê hàng hóa, hàng hóa nguy hiểm; tổ chức bộ phận hỗ trợ thân nhân người bị nạn và phối hợp với cơ quan chủ trì trong việc thông tin cho thân nhân trước khi công bố rộng rãi. 3. Cơ quan, đơn vị tham gia có trách nhiệm cung cấp dữ liệu kịp thời cho cơ quan chủ trì và Cục Hàng không Việt Nam; không công bố thông tin chưa được kiểm chứng hoặc thông tin thuộc phạm vi bảo vệ theo pháp luật. Việc cung cấp thông tin về người bị nạn phải bảo đảm bảo vệ dữ liệu cá nhân, phối hợp thông báo cho thân nhân và không ảnh hưởng đến hoạt động cứu nạn, điều tra. 4. Việc thông báo cho quốc gia có liên quan, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự khi tình huống liên quan đến tàu bay, người nước ngoài được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 67, Điều 70 của Nghị định số 221/2026/NĐ-CP và Điều 44 của Quy chế này. Chương IV PHỐI HỢP DÂN SỰ - LỰC LƯỢNG VŨ TRANG Điều 18. Nội dung phối hợp giữa dân sự - lực lượng vũ trang 1. Trao đổi thông tin báo động, chia sẻ dữ liệu giám sát, thông tin chuyến bay theo quy định tại Điều 14 và Điều 15 của Quy chế này. 2. Đề nghị, điều động lực lượng, phương tiện của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân tham gia tìm kiếm, cứu nạn hàng không. 3. Cấp phép bay, tổ chức vùng trời, hiệp đồng điều hành bay cho hoạt động tìm kiếm, cứu nạn. 4. Tìm kiếm, cứu nạn trong khu quân sự, tại sân bay dùng chung và khu vực biên giới, biển, đảo. 5. Xây dựng kế hoạch, phương án, văn bản hiệp đồng; huấn luyện, diễn tập chung; cử sĩ quan liên lạc. 6. Hỗ trợ lẫn nhau: khi tàu bay quân sự, tàu bay của Công an nhân dân lâm nguy, lâm nạn, theo đề nghị của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu và các đơn vị ngành hàng không dân dụng cung cấp thông tin, dữ liệu và tham gia hỗ trợ tìm kiếm, cứu nạn trong khả năng của mình. Điều 19. Đề nghị và điều động lực lượng, phương tiện của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân 1. Trình tự đề nghị thông thường: a) Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không hoặc cơ quan chủ trì xác định nhu cầu về loại phương tiện, nhiệm vụ, khu vực, thời gian, báo cáo Cục Hàng không Việt Nam; b) Cục Hàng không Việt Nam, Bộ Xây dựng hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị Bộ Quốc phòng qua Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, đề nghị Bộ Công an qua cơ quan thường trực Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự Bộ Công an; c) Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quyết định điều động lực lượng, phương tiện thuộc quyền theo quy định tại Điều 21 và Điều 33 của Luật Phòng thủ dân sự và thông báo cho bên đề nghị về lực lượng, phương tiện, người chỉ huy, phương thức liên lạc. 2. Trường hợp khẩn cấp đe dọa trực tiếp tính mạng con người, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, Trung tâm khẩn nguy sân bay, Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được đề nghị trực tiếp đơn vị quân đội, công an gần nhất có khả năng ứng cứu, kể cả khi chưa có văn bản hiệp đồng. Người chỉ huy đơn vị được đề nghị quyết định việc tham gia trong phạm vi thẩm quyền và báo cáo cấp trên trực tiếp; trường hợp vượt thẩm quyền phải chuyển ngay đề nghị đến người có thẩm quyền quyết định. Bên đề nghị đồng thời báo cáo theo khoản 1 Điều này. Việc chưa có văn bản hiệp đồng không làm trì hoãn hành động cứu người trong phạm vi thẩm quyền. 3. Đề nghị được thực hiện bằng phương tiện nhanh nhất và được xác nhận bằng văn bản trong thời hạn 24 giờ. 4. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an xác định và thông báo lực lượng, phương tiện thường trực, thời gian sẵn sàng xuất phát theo khu vực để đưa vào Kế hoạch tìm kiếm, cứu nạn hàng không quốc gia. 5. Cơ chế đề nghị lực lượng, phương tiện dân dụng hỗ trợ hoạt động tìm kiếm, cứu nạn do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an chủ trì được thực hiện tương tự quy định tại Điều này. Điều 20. Cấp phép bay, tổ chức vùng trời và ưu tiên cho hoạt động tìm kiếm, cứu nạn 1. Thẩm quyền cấp, sửa đổi, hủy bỏ phép bay cho chuyến bay tìm kiếm, cứu nạn thực hiện theo quy định tại Điều 14 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP. Cơ quan cấp phép bay tổ chức tiếp nhận, giải quyết đề nghị cấp phép bay tìm kiếm, cứu nạn 24 giờ trong ngày và ưu tiên giải quyết ngay. 2. Theo đề nghị của Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không hoặc cơ quan chủ trì thông qua Cục Hàng không Việt Nam, Bộ Quốc phòng xem xét, quyết định thiết lập khu vực hạn chế bay tạm thời, khu vực nguy hiểm tạm thời phục vụ hoạt động tìm kiếm, cứu nạn theo quy định tại khoản 3 Điều 5 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP và thông báo ngay để doanh nghiệp bảo đảm hoạt động bay phát hành thông báo tin tức hàng không kịp thời. 3. Cơ quan quản lý, điều hành bay quân sự tạo điều kiện để tàu bay tìm kiếm, cứu nạn được bay qua, bay trong khu vực cấm bay, khu vực hạn chế bay, khu vực huấn luyện quân sự khi cần thiết cho việc cứu người, trên cơ sở hiệp đồng và bảo đảm an toàn, quốc phòng, an ninh. 4. Chuyến bay tìm kiếm, cứu nạn được ưu tiên cung cấp dịch vụ bảo đảm hoạt động bay; việc áp dụng biện pháp bảo đảm thanh toán không làm ảnh hưởng đến việc ưu tiên cung cấp dịch vụ cho chuyến bay tìm kiếm, cứu nạn theo khoản 5 Điều 101 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP; không phải điều phối và xác nhận slot theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 58 của Nghị định số 208/2026/NĐ-CP ngày 15 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ về vận tải hàng không; được ưu tiên phục vụ tại cảng hàng không, sân bay, kể cả sân bay quân sự khi được phép sử dụng. Điều 21. Hiệp đồng điều hành bay và điều phối tàu bay tại khu vực tìm kiếm 1. Việc điều hành tàu bay dân dụng, tàu bay quân sự, tàu bay của Công an nhân dân cùng tham gia tìm kiếm, cứu nạn thực hiện theo quy định tại Điều 122 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP; cơ quan chủ trì hiệp đồng điều hành bay được xác định theo khoản 6 Điều 122 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP. 2. Khi có tàu bay (kể cả phương tiện bay không người lái) hoạt động trong một khu vực tìm kiếm, cứu nạn, cơ quan chủ trì phối hợp với Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu dân dụng và đơn vị quản lý, điều hành bay quân sự, Công an nhân dân có liên quan để thống nhất việc chỉ định người điều phối tàu bay tại hiện trường. Phương án hiệp đồng phải xác định khu vực, độ cao, thời gian hoạt động, phương thức vào, ra, tần số chính và dự phòng, xử lý mất liên lạc, tránh xung đột giữa tàu bay có người lái và phương tiện bay không người lái. Người điều phối thực hiện phân công nhiệm vụ theo phương án; cơ sở, đơn vị điều hành bay và người chỉ huy tàu bay thực hiện trách nhiệm bảo đảm an toàn theo thẩm quyền. Trước khi có chỉ định, việc điều phối tạm thời giữa các tàu bay tại hiện trường thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng. 3. Tổ bay tham gia tìm kiếm, cứu nạn thông báo kết quả quan sát cho người điều phối tàu bay tại hiện trường, chỉ huy hiện trường, cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu hoặc đơn vị điều hành bay liên quan để chuyển đến Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không và cơ quan chủ trì. 4. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không và cơ quan quản lý, điều hành bay quân sự cử sĩ quan liên lạc tại vị trí chỉ huy của nhau khi hoạt động tìm kiếm, cứu nạn có sự tham gia của tàu bay quân sự kéo dài quá 24 giờ hoặc theo yêu cầu của cơ quan chủ trì. Điều 22. Tìm kiếm, cứu nạn trong khu quân sự và tại sân bay dùng chung 1. Bộ Quốc phòng chủ trì tổ chức tìm kiếm, cứu nạn tàu bay thực hiện hoạt động hàng không dân dụng trong khu quân sự theo quy định tại khoản 4 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP; Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, người khai thác tàu bay cung cấp thông tin về chuyến bay, người trên tàu bay, hàng hóa nguy hiểm và hỗ trợ theo đề nghị. 2. Tại sân bay dùng chung, kế hoạch khẩn nguy sân bay phải được thống nhất giữa người khai thác cảng hàng không với đơn vị quản lý sân bay của lực lượng vũ trang có liên quan về phân công chỉ huy theo từng khu vực, tình huống; sử dụng lực lượng, phương tiện khẩn nguy, cứu nạn, chữa cháy; phương thức tiếp nhận lực lượng chi viện và giải quyết tình huống ảnh hưởng đồng thời đến khu vực dân dụng, quân sự hoặc khu vực do Công an nhân dân quản lý. 3. Đơn vị quân đội đóng quân tại khu vực lân cận cảng hàng không tham gia phương án khẩn nguy, cứu nạn theo văn bản hiệp đồng với người khai thác cảng hàng không và Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chương V TỔ CHỨC PHỐI HỢP TÌM KIẾM, CỨU NẠN Điều 23. Phương án tìm kiếm và kế hoạch bay tìm kiếm, cứu nạn 1. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không chủ trì lập phương án tìm kiếm trong trường hợp được giao chủ trì; đối với trường hợp cơ quan khác chủ trì, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không xây dựng nội dung nghiệp vụ hàng không và phối hợp hoàn thiện phương án. Phương án gồm các nội dung: a) Thông tin về tàu bay, người trên tàu bay, trang thiết bị cứu sinh, hàng hóa nguy hiểm; b) Khu vực ưu tiên tìm kiếm, phương pháp tìm kiếm và dự kiến thời gian tiến hành; c) Lực lượng, phương tiện dự kiến tham gia; phân công khu vực, nhiệm vụ; d) Thông tin liên lạc, tần số sử dụng; chỉ huy hiện trường, người điều phối tàu bay tại hiện trường; đ) Điều kiện khí tượng, thủy văn, địa hình; biện pháp bảo đảm an toàn; bảo đảm hậu cần, nhiên liệu, y tế; e) Đánh giá nguy cơ đối với lực lượng ứng cứu; tiêu chí điều chỉnh khu vực, nhiệm vụ; chế độ báo cáo kết quả, bàn giao ca và các nội dung cần thiết khác. 2. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không chủ trì, phối hợp với tổ chức, đơn vị có tàu bay tham gia và cơ sở, đơn vị điều hành bay liên quan lập kế hoạch bay tìm kiếm, cứu nạn gồm: số lượng, loại tàu bay; tổ bay, tổ quan sát; sân bay, thời gian cất cánh, hạ cánh, sân bay dự bị; đường bay, độ cao, khu vực, phương pháp tìm kiếm; nhiên liệu; bảo đảm thông tin liên lạc, hiệp đồng điều hành bay và an toàn hoạt động. Kế hoạch này là kế hoạch thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, cứu nạn, không thay thế phép bay, kế hoạch bay không lưu và các chấp thuận phải có theo quy định. 3. Cơ quan chủ trì quyết định phương án tìm kiếm, cứu nạn được quy định như sau: a) Cơ quan chủ trì quyết định phương án tìm kiếm, cứu nạn trong phạm vi nhiệm vụ, thẩm quyền; b) Trong thời gian chủ trì tìm kiếm, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không quyết định, điều chỉnh phương án tìm kiếm, kế hoạch bay tìm kiếm, cứu nạn và truyền đạt cho chỉ huy hiện trường theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng; c) Khi cơ quan khác chủ trì, nội dung do Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không xây dựng, đề xuất điều chỉnh được chuyển qua cơ quan chủ trì; d) Trường hợp Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia trực tiếp chỉ đạo, chỉ định cơ quan chủ trì hoặc quyết định kế hoạch, phương án theo khoản 3, khoản 5 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP, cơ quan chủ trì, Cục Hàng không Việt Nam và các lực lượng tổ chức thực hiện theo kế hoạch, phương án đã được ban hành; Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không tổ chức thực hiện nội dung nghiệp vụ hàng không được giao, đồng thời báo cáo Cục Hàng không Việt Nam, Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia và thông báo cho các cơ quan liên quan; đ) Việc thực hiện chuyến bay phải đáp ứng yêu cầu cấp phép, hiệp đồng điều hành bay, điều kiện khai thác và quyết định an toàn của người chỉ huy tàu bay; e) Việc báo cáo, hoàn thiện phương án không làm chậm hành động cứu người ban đầu trong phạm vi thẩm quyền. 4. Cơ sở cung cấp dịch vụ khí tượng hàng không và cơ quan khí tượng thủy văn được phân công cung cấp kịp thời thông tin, dự báo, cảnh báo về gió, mây, tầm nhìn, hiện tượng thời tiết nguy hiểm, sóng, dòng chảy và điều kiện môi trường liên quan theo phạm vi nhiệm vụ; cập nhật cho Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, cơ quan chủ trì và lực lượng tham gia để tính toán khu vực tìm kiếm, đánh giá khả năng tiếp cận và bảo đảm an toàn. Cơ quan chủ trì phối hợp với cơ quan chuyên môn xác định nhu cầu, đầu mối và phương thức cung cấp thông tin trong phương án tìm kiếm, cứu nạn. Điều 24. Huy động tàu bay và phương tiện tham gia tìm kiếm, cứu nạn 1. Thẩm quyền điều động, huy động lực lượng, phương tiện thực hiện theo quy định tại Điều 21 của Luật Phòng thủ dân sự. Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia điều phối việc huy động tàu bay, phương tiện của các bộ, ngành, địa phương khi tình huống vượt quá khả năng của cơ quan chủ trì. 2. Cục Hàng không Việt Nam phối hợp với người khai thác tàu bay, doanh nghiệp hàng không chung và tổ chức có phương tiện phù hợp xác định khả năng tham gia; yêu cầu thực hiện trách nhiệm theo pháp luật hàng không dân dụng và đề nghị người có thẩm quyền huy động, điều động khi cần thiết. Tổ chức, cá nhân được huy động triển khai nhiệm vụ theo quyết định của người có thẩm quyền, phương án đã thống nhất và điều kiện an toàn khai thác. 3. Trang thiết bị, tài sản được huy động phải được hoàn trả ngay sau khi kết thúc nhiệm vụ; trường hợp bị thiệt hại thì được bồi thường theo quy định tại khoản 3 Điều 21 của Luật Phòng thủ dân sự. 4. Người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng và người chỉ huy phương tiện tham gia có quyền quyết định cuối cùng về an toàn của phương tiện và người trên phương tiện; khi không thể tiếp tục nhiệm vụ phải thông báo ngay cho chỉ huy hiện trường hoặc cơ quan chủ trì. Điều 25. Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn tại cảng hàng không và khu vực lân cận cảng hàng không 1. Doanh nghiệp cảng hàng không thực hiện trách nhiệm chủ trì theo khoản 1 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP, thông qua người khai thác cảng hàng không và Trung tâm khẩn nguy sân bay theo kế hoạch khẩn nguy sân bay. Người khai thác cảng hàng không tổ chức triển khai kế hoạch khẩn nguy sân bay; Trung tâm khẩn nguy sân bay chỉ huy, điều phối lực lượng khẩn nguy tại cảng hàng không và phối hợp với lực lượng chi viện theo kế hoạch, bảo đảm phù hợp với thẩm quyền chỉ huy của từng lực lượng. Lực lượng khẩn nguy sân bay giữ vai trò chủ lực, triển khai ngay biện pháp cứu nạn ban đầu; khi tình huống vượt quá khả năng tại chỗ, người khai thác cảng hàng không đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh huy động lực lượng y tế, phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, công an, quân đội chi viện. 2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cấp xã, phường nơi có cảng hàng không phối hợp thực hiện công tác khẩn nguy sân bay theo quy định tại khoản 3 Điều 91 của Nghị định số 205/2026/NĐ-CP; huy động lực lượng y tế, phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, công an, quân sự, dân quân tự vệ theo đề nghị của người khai thác cảng hàng không; bảo đảm giao thông cho phương tiện cấp cứu ra, vào cảng hàng không. 3. Khi tàu bay lâm nạn trong khu vực lân cận cảng hàng không nhưng ngoài ranh giới cảng hàng không, người khai thác cảng hàng không chỉ huy lực lượng hàng không ứng phó ban đầu trong khả năng tiếp cận theo kế hoạch khẩn nguy sân bay, thông báo ngay và phối hợp với Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp xã, phường nơi xảy ra tai nạn. Việc triển khai lực lượng ra ngoài cảng hàng không phải bảo đảm duy trì cấp cứu hỏa tối thiểu hoặc thông báo thay đổi cấp cứu hỏa theo quy định. Kế hoạch khẩn nguy sân bay phải xác định điều kiện, thời điểm chuyển giao trách nhiệm chủ trì cứu nạn khi tình huống vượt quá khả năng ứng phó; việc chuyển giao thực hiện theo khoản 4 Điều 7 của Quy chế này và khoản 5 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP. 4. Cảng vụ hàng không giám sát việc thực hiện kế hoạch khẩn nguy sân bay; Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không hỗ trợ thông tin chuyến bay, đề nghị bổ sung lực lượng theo thẩm quyền và thông báo cho các cơ quan quy định tại Điều 14 của Quy chế này. 5. Việc dừng khai thác cảng hàng không, công trình, một phần công trình tại cảng hàng không do tai nạn tàu bay thực hiện theo khoản 3 Điều 36 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam và quy định của Chính phủ về cảng hàng không. Điều 26. Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn tàu bay lâm nguy, lâm nạn trên biển 1. Cơ quan chủ trì tìm kiếm, cứu nạn tàu bay lâm nguy, lâm nạn trên biển được xác định theo Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không chủ trì xác định, cập nhật khu vực ưu tiên tìm kiếm theo khoản 2 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP và cung cấp kịp thời dữ liệu về tàu bay; chuyển ngay thông tin cho Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam và phối hợp xác định cơ quan chủ trì, triển khai hoạt động từ khi nhận được thông tin tàu bay có khả năng lâm nguy, lâm nạn trên biển. Không chờ xác định được vị trí chính xác mới tổ chức phối hợp, tìm kiếm và cứu người. Trường hợp chưa xác định được cơ quan chủ trì, hai Trung tâm đối chiếu khu vực, báo cáo hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền quyết định, đồng thời tiếp tục ứng cứu trong phạm vi trách nhiệm. 2. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không xây dựng nội dung nghiệp vụ hàng không trong phương án chung; phối hợp lập kế hoạch bay, điều phối nhiệm vụ của tàu bay tham gia và liên lạc với trung tâm phối hợp cứu nạn hàng không của nước ngoài. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam phối hợp tổ chức hoạt động của lực lượng, phương tiện trên biển theo chức năng, nhiệm vụ, phối hợp phát thông báo hàng hải, thông tin duyên hải và liên lạc trung tâm phối hợp cứu nạn hàng hải của nước ngoài theo nhiệm vụ được giao. Hai Trung tâm thống nhất dữ liệu, phương án, phân công nhiệm vụ và báo cáo cơ quan chủ trì; trường hợp chưa thống nhất phải báo cáo ngay cấp có thẩm quyền, đồng thời tiếp tục các biện pháp ứng cứu trong phạm vi trách nhiệm. Văn bản hiệp đồng giữa hai Trung tâm quy định phương thức phối hợp, không làm thay đổi thẩm quyền chủ trì. 3. Bộ Quốc phòng chỉ đạo lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển Việt Nam, Bộ đội Biên phòng, Phòng không - Không quân; Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo lực lượng kiểm ngư và thông báo cho tàu cá hoạt động trong khu vực tham gia tìm kiếm, cứu nạn theo đề nghị của cơ quan chủ trì. 4. Tại vùng nước cảng biển, vùng cấm, vùng hạn chế trên biển, khu vực giàn khoan, công trình trên biển, việc xác định cơ quan chủ trì thực hiện theo pháp luật có liên quan và Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển; Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không thực hiện nhiệm vụ nghiệp vụ hàng không theo khoản 1 và khoản 2 Điều này. Trường hợp liên quan khu vực lân cận cảng hàng không hoặc khu quân sự, thực hiện thêm cơ chế phối hợp tại khoản 5 Điều 5 của Quy chế này. Trong vùng nước cảng biển, Cảng vụ hàng hải phối hợp tiếp nhận thông tin, cảnh báo tàu thuyền, bảo đảm an toàn giao thông hàng hải và hỗ trợ lực lượng cứu nạn tiếp cận hiện trường theo văn bản hiệp đồng quy định tại Điều 11 của Quy chế này. Điều 27. Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn tàu bay lâm nguy, lâm nạn trên đất liền 1. Trong giai đoạn tìm kiếm, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không chủ trì tìm kiếm, xác định vị trí tàu bay lâm nạn theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Quy chế này và điểm b khoản 3 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP; phối hợp, hiệp đồng với Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong khu vực ưu tiên tìm kiếm có trách nhiệm: a) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, công an, quân sự, biên phòng, kiểm lâm, dân quân tự vệ thu thập thông tin từ nhân dân về tiếng nổ, khói, lửa, tàu bay bay thấp bất thường; tổ chức lực lượng tìm kiếm mặt đất theo phương án tìm kiếm của Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không; b) Thông báo ngay cho Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không mọi thông tin thu được và kết quả tìm kiếm; c) Chuẩn bị sẵn sàng lực lượng, phương tiện, y tế để triển khai cứu nạn ngay khi xác định được vị trí. 2. Sau khi xác định được vị trí tàu bay lâm nạn, Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp nhận trách nhiệm chủ trì từ Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 7 của Quy chế này và chủ trì cứu nạn; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, chỉ huy lực lượng, phương tiện trên địa bàn, chỉ định chỉ huy hiện trường. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tàu bay lâm nạn chỉ huy lực lượng tại chỗ ứng cứu ngay theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của Luật Phòng thủ dân sự cho đến khi chỉ huy hiện trường do cơ quan chủ trì chỉ định tiếp nhận. 3. Trường hợp tàu bay lâm nạn tại khu vực giáp ranh giữa hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Cục Hàng không Việt Nam báo cáo ngay Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia xem xét, chỉ định cơ quan chủ trì cứu nạn theo điểm c khoản 3 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP. Trong khi chờ chỉ định, các địa phương triển khai ngay lực lượng thuộc quyền; người chỉ huy đơn vị tìm kiếm, cứu nạn đến hiện trường đầu tiên phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức ứng cứu ban đầu theo điểm đ khoản 1 Điều 28. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không tiếp tục nhiệm vụ nghiệp vụ hàng không, duy trì trao đổi thông tin và phối hợp giữa các địa phương. Việc ứng cứu ban đầu không thay thế thẩm quyền chỉ định cơ quan chủ trì. 4. Tại khu vực biên giới, Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt tìm kiếm, tiếp cận ban đầu; việc phối hợp với lực lượng của nước láng giềng thực hiện theo quy định tại Chương VI của Quy chế này. Điều 28. Phối hợp tại hiện trường 1. Cơ quan chủ trì chỉ định chỉ huy hiện trường theo nguyên tắc sau đây: a) Tại cảng hàng không và khu vực lân cận cảng hàng không: theo kế hoạch khẩn nguy sân bay; b) Trên đất liền: người do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ định theo kế hoạch tìm kiếm, cứu nạn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; c) Trên biển: thực hiện theo Quy chế phối hợp tìm kiếm, cứu nạn trên biển và trong vùng nước cảng biển; d) Trong khu quân sự: người do Bộ Quốc phòng chỉ định; đ) Khi chưa có chỉ định hoặc chưa có người chỉ huy tại chỗ đang thực hiện nhiệm vụ theo quy định, người chỉ huy của đơn vị tìm kiếm, cứu nạn đến hiện trường đầu tiên tổ chức điều phối ứng cứu ban đầu, thông báo ngay cho cơ quan chủ trì để xác nhận hoặc chỉ định người thay thế; trường hợp đã có người chỉ huy tại chỗ thì phối hợp, bàn giao rõ ràng, không hình thành hai đầu mối chỉ huy. 2. Chỉ huy hiện trường có trách nhiệm: a) Phối hợp hoạt động của các đơn vị tìm kiếm, cứu nạn tại hiện trường; phân công khu vực, nhiệm vụ; duy trì thông tin liên lạc giữa các đơn vị và với cơ quan chủ trì; b) Thực hiện phương án tìm kiếm, cứu nạn và chỉ dẫn của cơ quan chủ trì; báo cáo định kỳ tình hình, kết quả, điều kiện thời tiết tại hiện trường; c) Đề xuất bổ sung, điều chỉnh phương án, bổ sung lực lượng, phương tiện hoặc tạm dừng, kết thúc hoạt động tại hiện trường; việc điều chỉnh phương án phải được cơ quan chủ trì chấp thuận; d) Khi có nguy cơ trực tiếp đối với tính mạng, an toàn của lực lượng, được áp dụng ngay biện pháp bảo vệ, điều chỉnh triển khai hoặc rút lực lượng khỏi khu vực nguy hiểm và báo cáo ngay. Trường hợp khẩn cấp không liên lạc được với cơ quan chủ trì, được điều chỉnh phương án trong phạm vi cần thiết và báo cáo trong thời gian sớm nhất; việc này không phải là quyết định kết thúc toàn bộ nhiệm vụ tìm kiếm, cứu nạn; đ) Bảo đảm an toàn cho người, phương tiện tham gia; ghi nhận các thay đổi hiện trường phục vụ công tác điều tra. 3. Người chỉ huy các đơn vị tìm kiếm, cứu nạn, kể cả lực lượng quân đội, công an và lực lượng nước ngoài, thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công, điều phối nhiệm vụ chung của chỉ huy hiện trường; người chỉ huy lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân trực tiếp chỉ huy người, phương tiện thuộc quyền theo quy định; thông báo cho chỉ huy hiện trường khi đến, rời hiện trường và khả năng, giới hạn hoạt động của đơn vị mình. Đội tìm kiếm, cứu nạn hàng không chủ trì hướng dẫn nghiệp vụ tiếp cận, xử lý, di chuyển người và hàng hóa ra khỏi tàu bay, phòng, chống cháy, nổ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, dưới sự điều phối chung của chỉ huy hiện trường; tham gia bảo vệ hiện trường theo phân công của lực lượng được giao nhiệm vụ theo Điều 30 của Quy chế này. Trường hợp phương án triển khai của chỉ huy hiện trường chưa thống nhất với người chỉ huy lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, hai bên trao đổi ngay để thống nhất; nếu vẫn chưa thống nhất, chỉ huy hiện trường báo cáo ngay cơ quan chủ trì quyết định về nhiệm vụ chung, người chỉ huy lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân quyết định biện pháp bảo đảm an toàn đối với người, phương tiện thuộc quyền. 4. Cơ quan chủ trì có trách nhiệm: nắm tình hình, quyết định phương án; trực tiếp điều động hoặc kiến nghị điều động lực lượng, phương tiện; duy trì liên lạc với chỉ huy hiện trường, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không; bảo đảm hậu cần, y tế, an ninh trật tự; phối hợp với cơ quan, tổ chức liên quan giải quyết hậu quả vụ tai nạn. 5. Tổ chức, cá nhân có phương tiện được huy động chấp hành lệnh điều động của người có thẩm quyền và bảo đảm an toàn cho người, phương tiện trong quá trình tham gia. 6. Người điều phối nhiệm vụ tìm kiếm, cứu nạn tham mưu cơ quan chủ trì đánh giá tình huống, lập và cập nhật phương án; theo dõi phân công lực lượng, kết quả, nhu cầu hỗ trợ; duy trì liên lạc với chỉ huy hiện trường, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không và các đầu mối liên quan; lập nhật ký quyết định, báo cáo và bàn giao nhiệm vụ. Việc phân công, thay thế người điều phối phải được thông báo cho các đầu mối tham gia; không làm thay đổi trách nhiệm của cơ quan chủ trì. Điều 29. Cứu nạn quy mô lớn, bảo đảm y tế và tiếp nhận người bị nạn 1. Khi tình huống được xác định là cứu nạn quy mô lớn, cơ quan chủ trì báo cáo ngay Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia; căn cứ diễn biến, mức độ thiệt hại, cấp có thẩm quyền xem xét ban bố cấp độ phòng thủ dân sự và áp dụng các biện pháp tương ứng theo quy định của Luật Phòng thủ dân sự. 2. Bộ Y tế, Sở Y tế chỉ đạo lực lượng cấp cứu ngoại viện, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tổ chức phân loại, cấp cứu, vận chuyển, thu dung điều trị nạn nhân; huy động lực lượng y tế của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân theo cơ chế kết hợp quân - dân y. 3. Cơ quan chủ trì phối hợp với người khai thác tàu bay lập danh sách, xác định danh tính người bị nạn, tổ chức nơi tiếp nhận người sống sót và thân nhân. Bộ Công an chỉ đạo việc bảo đảm an ninh, trật tự, giám định nhận dạng nạn nhân. Bộ Ngoại giao phối hợp giải quyết các vấn đề liên quan đến người nước ngoài. 4. Người khai thác tàu bay và doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm phối hợp, cung cấp hồ sơ, tài liệu, thông tin liên quan đến tàu bay, hành khách, hàng hóa theo yêu cầu của cơ quan chủ trì; thực hiện trách nhiệm hỗ trợ người bị nạn và thân nhân theo quy định của pháp luật. Điều 30. Phối hợp giữa hoạt động tìm kiếm, cứu nạn với bảo vệ hiện trường, điều tra tai nạn và xử lý xác tàu bay 1. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu và các cơ quan, đơn vị quy định tại khoản 1 Điều 67 của Nghị định số 221/2026/NĐ-CP thông báo ngay cho cơ quan điều tra sự cố nghiêm trọng, tai nạn tàu bay và Nhà chức trách hàng không Việt Nam. 2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, người khai thác cảng hàng không tổ chức bảo vệ hiện trường, bảo toàn bằng chứng và bàn giao hiện trường theo quy định tại Điều 71 của Nghị định số 221/2026/NĐ-CP. Lực lượng tìm kiếm, cứu nạn chỉ di chuyển, xê dịch tàu bay, bộ phận tàu bay trong các trường hợp và ở mức độ quy định tại khoản 4 Điều 71 của Nghị định số 221/2026/NĐ-CP; ghi nhận, chụp ảnh, đánh dấu vị trí ban đầu trong khả năng có thể. 3. Chỉ huy hiện trường, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không cung cấp cho cơ quan điều tra nhật ký và thông tin thu thập được trong quá trình tìm kiếm, cứu nạn; dữ liệu ghi âm, ghi hình, dữ liệu giám sát do Doanh nghiệp bảo đảm hoạt động bay cung cấp theo quy định tại khoản 2 Điều 32 của Quy chế này. Việc tìm kiếm thiết bị ghi dữ liệu chuyến bay, mảnh vỡ tàu bay sau khi kết thúc cứu nạn do cơ quan điều tra chủ trì; các bộ, ngành, địa phương phối hợp theo quy định tại Điều 73 của Nghị định số 221/2026/NĐ-CP. 4. Trường hợp có dấu hiệu hành vi can thiệp bất hợp pháp hoặc dấu hiệu tội phạm, cơ quan chủ trì thông báo ngay cho cơ quan Công an; hoạt động cứu người tiếp tục được ưu tiên thực hiện song song với việc đối phó theo quy định của pháp luật về an ninh hàng không. 5. Việc di dời, xử lý xác tàu bay thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 130 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP. 6. Việc tìm kiếm, thu hồi, di chuyển, bảo quản thiết bị ghi dữ liệu chuyến bay, bộ phận tàu bay, mảnh vỡ và các bằng chứng liên quan phải được phối hợp với cơ quan điều tra sự cố nghiêm trọng, tai nạn tàu bay; bảo đảm không làm mất, hư hỏng hoặc thay đổi bằng chứng, trừ các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 71 của Nghị định số 221/2026/NĐ-CP. Điều 31. Tạm dừng, kết thúc hoạt động tìm kiếm, cứu nạn 1. Hoạt động tìm kiếm, cứu nạn được tiếp tục, khi điều kiện cho phép, cho đến khi tất cả người sống sót được đưa đến nơi an toàn hoặc không còn hy vọng hợp lý về việc cứu được người sống sót. 2. Cơ quan chủ trì quyết định và công bố việc kết thúc, tạm dừng hoặc tiếp tục hoạt động sau khi tham vấn ý kiến Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia theo khoản 2 Điều 130 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP. Trước khi quyết định, cơ quan chủ trì lấy ý kiến Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, chỉ huy hiện trường và cơ quan chuyên môn có liên quan; căn cứ đánh giá thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, bao gồm khả năng sống sót, mức độ hoàn thành tìm kiếm tại các khu vực được phân công, việc xác minh các manh mối, khả năng khai thác thêm thông tin, điều kiện thời tiết và rủi ro; lập hồ sơ về căn cứ, ý kiến tham vấn và quyết định. Trường hợp Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không đang chủ trì công tác tìm kiếm, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không báo cáo Cục Hàng không Việt Nam thống nhất đề xuất theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng trước khi tham vấn Ban Chỉ đạo; trường hợp khẩn cấp, việc báo cáo và tham vấn được thực hiện đồng thời. Trường hợp Ban Chỉ đạo trực tiếp chỉ đạo hoặc trực tiếp chủ trì theo khoản 3, khoản 5 Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP, việc kết thúc, tạm dừng hoặc tiếp tục thực hiện theo quyết định của Ban Chỉ đạo. 3. Khi hoạt động tại hiện trường không thể tiếp tục do điều kiện bất khả kháng hoặc không bảo đảm an toàn cho lực lượng nhưng vẫn có cơ sở về khả năng còn người sống sót, cơ quan đang chủ trì, bao gồm Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không khi đang chủ trì tìm kiếm, quyết định tạm dừng hoạt động tại hiện trường; thông báo ngay cho các lực lượng tham gia, Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia và Cục Hàng không Việt Nam; xác định rõ phạm vi, lý do, biện pháp còn duy trì, đầu mối tiếp nhận thông tin mới, thời điểm đánh giá lại và điều kiện khôi phục. Thông tin mới phải được đánh giá ngay để xem xét tiếp tục hoạt động. Việc một phương tiện hoặc một lực lượng tạm ngừng nhiệm vụ, rút khỏi khu vực để bảo đảm an toàn theo khoản 4 Điều 24, điểm d khoản 2 Điều 28 không thay thế quyết định tạm dừng hoặc kết thúc toàn bộ hoạt động. 4. Quyết định kết thúc, tạm dừng được thông báo ngay cho cơ quan, đơn vị, lực lượng đã được thông báo, huy động; người khai thác tàu bay và quốc gia có liên quan; phối hợp thông tin cho thân nhân người bị nạn theo Điều 17 của Quy chế này. Đối với tàu bay chưa tìm thấy, việc xác định tàu bay mất tích thực hiện theo khoản 3 Điều 48 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; quyết định tạm dừng hoạt động không thay thế quyết định chấm dứt hoạt động tìm kiếm. 5. Khi đã xác định được vị trí tàu bay lâm nạn, Cục Hàng không Việt Nam quyết định kết thúc giai đoạn tìm kiếm vị trí tàu bay theo đề nghị của Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không, theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Việc chuyển giao chủ trì theo khoản 3, khoản 4 Điều 7 và việc cứu nạn không chờ quyết định này. Quyết định kết thúc giai đoạn tìm kiếm vị trí tàu bay không phải là quyết định kết thúc hoạt động tìm kiếm, cứu nạn theo khoản 2 Điều này; việc tìm kiếm người còn mất tích tiếp tục theo khoản 6 Điều 7 của Quy chế này. Điều 32. Tổng kết, rút kinh nghiệm và báo cáo 1. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày kết thúc hoạt động tìm kiếm, cứu nạn, cơ quan chủ trì tổ chức rút kinh nghiệm với sự tham gia của các lực lượng đã tham gia; báo cáo kết quả, tồn tại, kiến nghị gửi Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, Bộ Quốc phòng, Bộ Xây dựng. 2. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không lập, lưu trữ hồ sơ vụ việc gồm nhật ký, phương án, kế hoạch hành động, mệnh lệnh, báo cáo. Dữ liệu ghi âm, ghi hình, dữ liệu giám sát liên quan đến vụ việc được doanh nghiệp bảo đảm hoạt động bay lưu trữ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng; Doanh nghiệp bảo đảm hoạt động bay bảo đảm cho Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không truy cập, trích xuất kịp thời khi có yêu cầu phục vụ tìm kiếm, cứu nạn, rút kinh nghiệm và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền. Việc lưu trữ thực hiện theo quy định của pháp luật về lưu trữ. 3. Cục Hàng không Việt Nam tổng hợp bài học kinh nghiệm, kiến nghị sửa đổi kế hoạch, phương án, văn bản hiệp đồng; xác định cơ quan chủ trì khắc phục, sản phẩm và thời hạn hoàn thành, theo dõi kết quả khắc phục. Việc rút kinh nghiệm tìm kiếm, cứu nạn không thay thế kết luận điều tra tai nạn. Chương VI PHỐI HỢP QUỐC TẾ Điều 33. Thỏa thuận tìm kiếm, cứu nạn với quốc gia kế cận 1. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an tổ chức đàm phán, ký kết và duy trì thỏa thuận tìm kiếm, cứu nạn hàng không với quốc gia có vùng tìm kiếm, cứu nạn hoặc vùng thông báo bay kế cận theo quy định của pháp luật về điều ước quốc tế, các hiệp định quốc tế mà Việt Nam là quốc gia thành viên. 2. Thỏa thuận có các nội dung chủ yếu: ranh giới và phương thức phối hợp tại khu vực giáp ranh; trao đổi thông tin báo động; điều kiện, thủ tục nhanh để đơn vị tìm kiếm, cứu nạn của bên này vào lãnh thổ, vùng trách nhiệm của bên kia; sử dụng chung phương tiện, sân bay, dịch vụ; huấn luyện, diễn tập chung; trao đổi thông tin về lực lượng, phương tiện. 3. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không ký kết văn bản phối hợp nghiệp vụ với trung tâm phối hợp cứu nạn của quốc gia kế cận trong phạm vi được Cục Hàng không Việt Nam chấp thuận, phù hợp pháp luật về thỏa thuận quốc tế; trực tiếp đề nghị, tiếp nhận và trao đổi yêu cầu trợ giúp. Việc cam kết, cung cấp lực lượng, phương tiện ra nước ngoài và cho phép lực lượng, phương tiện nước ngoài vào Việt Nam phải được người có thẩm quyền quyết định; văn bản phối hợp nghiệp vụ không làm phát sinh hoặc thay đổi thẩm quyền cấp phép, huy động. Điều 34. Lực lượng, phương tiện nước ngoài tham gia tìm kiếm, cứu nạn tại Việt Nam 1. Quốc gia đăng ký quốc tịch tàu bay, chủ sở hữu tàu bay nước ngoài lâm nguy, lâm nạn tại Việt Nam được tham gia tìm kiếm, cứu nạn theo quy định tại khoản 5 Điều 48 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam. 2. Việc cấp phép và phối hợp hoạt động với lực lượng, phương tiện tìm kiếm, cứu nạn nước ngoài thực hiện theo quy định của Chính phủ về cấp phép và phối hợp hoạt động với lực lượng tìm kiếm, cứu nạn nước ngoài tại Việt Nam; thẩm quyền cấp phép bay thực hiện theo quy định tại Điều 14 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP; 3. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không tiếp nhận và xác nhận ngay đề nghị từ Trung tâm phối hợp cứu nạn nước ngoài; chuyển ngay đến cơ quan có thẩm quyền kèm thông tin nhiệm vụ, sự cần thiết, lực lượng, phương tiện, khu vực, thời gian dự kiến và phương thức phối hợp. Cơ quan có thẩm quyền tổ chức đầu mối trực để xử lý khẩn cấp, thông báo trong thời gian sớm nhất kết quả, điều kiện thực hiện hoặc nội dung cần bổ sung. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không theo dõi việc xử lý, chuyển ngay thông tin cho bên đề nghị, phối hợp các cơ quan thực hiện thủ tục liên quan; việc trao đổi nghiệp vụ không thay thế chấp thuận, giấy phép theo pháp luật. 4. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo thực hiện thủ tục biên phòng, xuất nhập cảnh, hải quan, kiểm dịch theo thủ tục ưu tiên đối với người, phương tiện, trang thiết bị tìm kiếm, cứu nạn nước ngoài đã được cấp phép. 5. Lực lượng, phương tiện nước ngoài tham gia tìm kiếm, cứu nạn tại Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, thỏa thuận đã ký kết, điều kiện của giấy phép; hoạt động theo sự điều phối của cơ quan chủ trì và chỉ huy hiện trường của Việt Nam; thông tin, báo cáo theo yêu cầu. Cơ quan chủ trì bố trí sĩ quan liên lạc, phiên dịch khi cần thiết. 6. Cục Hàng không Việt Nam chủ trì tổng hợp, công bố trong Tập thông báo tin tức hàng không hoặc thông qua thỏa thuận, phương thức phối hợp quốc tế thông tin cần thiết về đầu mối tiếp nhận, cơ quan có thẩm quyền, yêu cầu và thủ tục cho lực lượng tìm kiếm, cứu nạn nước ngoài vào Việt Nam; các bộ, ngành cung cấp, cập nhật thông tin thuộc phạm vi quản lý. Điều 35. Tìm kiếm, cứu nạn ngoài vùng trách nhiệm của Việt Nam 1. Khi tàu bay mang quốc tịch Việt Nam hoặc do người khai thác Việt Nam khai thác lâm nguy, lâm nạn ở nước ngoài, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không liên hệ ngay với Trung tâm Phối hợp cứu nạn của quốc gia tương ứng để cung cấp, tiếp nhận thông tin; báo cáo Cục Hàng không Việt Nam. Bộ Ngoại giao chỉ đạo cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài phối hợp với nước sở tại hỗ trợ tìm kiếm, cứu nạn, bảo hộ công dân. 2. Khi nhận được đề nghị trợ giúp của nước ngoài, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không báo cáo Cục Hàng không Việt Nam, Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia. Việc đưa lực lượng, phương tiện của Việt Nam tham gia tìm kiếm, cứu nạn ở nước ngoài do cấp có thẩm quyền quyết định; Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng phối hợp đề nghị quốc gia liên quan cấp phép. Chương VII HUẤN LUYỆN, DIỄN TẬP VÀ BẢO ĐẢM Điều 36. Diễn tập tìm kiếm, cứu nạn hàng không 1. Diễn tập tìm kiếm, cứu nạn hàng không cấp quốc gia thực hiện theo quy định tại Điều 131 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP, có sự tham gia của lực lượng dân sự và quân sự, hàng không và hàng hải, doanh nghiệp bảo đảm hoạt động bay, người khai thác cảng hàng không, hãng hàng không; khi có điều kiện, mời Trung tâm phối hợp cứu nạn của các quốc gia kế cận tham gia. 2. Diễn tập phải kiểm tra cả hoạt động tìm kiếm và cứu nạn, cơ chế báo động, chuyển giao trách nhiệm, phối hợp giữa dân sự - lực lượng vũ trang, hàng không - hàng hải; có tình huống ngoài khu vực sân bay, tại đất liền và trên biển phù hợp vùng trách nhiệm. 3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lồng ghép tình huống tai nạn tàu bay vào diễn tập phòng thủ dân sự của địa phương; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có cảng hàng không tổ chức diễn tập phối hợp với người khai thác cảng hàng không theo chu kỳ diễn tập khẩn nguy sân bay. 4. Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không tổ chức luyện tập thông tin, hiệp đồng với các đầu mối quy định tại Điều 11 ít nhất một lần trong năm; kiểm tra phương thức dự phòng. Báo động luyện tập phải được nhận biết là diễn tập, có biện pháp kiểm soát để không gây báo động hoặc huy động lực lượng ngoài dự kiến. 5. Sau mỗi cuộc diễn tập, cơ quan tổ chức đánh giá kết quả, thời gian tiếp nhận và chuyển tin, huy động lực lượng, chuyển giao, mức độ an toàn; xác định tồn tại, đơn vị chịu trách nhiệm, biện pháp và thời hạn khắc phục. Báo cáo diễn tập có huy động thực binh được gửi Bộ Xây dựng và Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia; kết quả khắc phục được theo dõi, kiểm tra. Điều 37. Huấn luyện phối hợp 1. Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về công tác huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không cho người điều phối nhiệm vụ, chỉ huy hiện trường, người điều phối tàu bay tại hiện trường, tổ bay, quan sát viên trên không và cán bộ của Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự các cấp. 2. Cơ quan, đơn vị ký kết văn bản hiệp đồng tổ chức trao đổi, làm quen nghiệp vụ, tham quan vị trí làm việc của nhau theo định kỳ. 3. Nội dung huấn luyện phù hợp tài liệu hướng dẫn tìm kiếm, cứu nạn hàng không và hàng hải quốc tế, quy định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về nhân viên tìm kiếm, cứu nạn; bao gồm điều phối nhiệm vụ, thông tin liên lạc, phối hợp với cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu, nhận biết và quản lý nguy cơ sức khỏe nghề nghiệp tại hiện trường tai nạn, sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân, hàng nguy hiểm, nhiên liệu, cháy nổ và nguy cơ sinh học. Cơ quan quản lý nhân sự tổ chức huấn luyện định kỳ, đánh giá năng lực phù hợp nhiệm vụ và lưu hồ sơ. Điều 38. Bảo đảm kinh phí và thanh toán chi phí 1. Kinh phí bảo đảm cho hoạt động thường xuyên, huấn luyện, diễn tập, mua sắm trang thiết bị và nhiệm vụ đột xuất về tìm kiếm, cứu nạn hàng không của các bộ, ngành, địa phương được bố trí theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và Điều 41 của Nghị định số 200/2025/NĐ-CP. Kinh phí cung cấp dịch vụ tìm kiếm, cứu nạn hàng không của doanh nghiệp bảo đảm hoạt động bay thực hiện theo cơ chế tài chính đối với dịch vụ công ích bảo đảm hoạt động bay. Cơ quan, đơn vị tham gia diễn tập tự bảo đảm kinh phí cho hoạt động của mình theo phân cấp; việc chi trả cho người, phương tiện được huy động tham gia diễn tập thực hiện theo khoản 1 Điều 43 của Nghị định số 200/2025/NĐ-CP. 2. Việc thanh toán chi phí, hoàn trả và bồi thường trang thiết bị, tài sản được huy động thực hiện theo pháp luật về phòng thủ dân sự, ngân sách nhà nước và quản lý tài chính đối với hoạt động tìm kiếm, cứu nạn. Cơ quan, người quyết định huy động có trách nhiệm chỉ rõ cơ quan bảo đảm kinh phí theo thẩm quyền; đơn vị thực hiện xác nhận nhiệm vụ, thời gian, lực lượng, phương tiện và chi phí. Trường hợp nhiều cơ quan cùng tham gia, cơ quan chủ trì tổng hợp, phối hợp với cơ quan tài chính xác định nguồn, trách nhiệm thanh toán, tránh trùng lặp. Nhiệm vụ đột xuất chưa có dự toán được trình cấp có thẩm quyền quyết định sử dụng nguồn kinh phí, tạm ứng, bổ sung và quyết toán theo pháp luật; không chờ thống nhất chi phí mới cứu người. 3. Việc thiếu thỏa thuận trước về chi phí không được là lý do để trì hoãn hoặc từ chối tham gia cứu người. Không thu chi phí tìm kiếm, cứu nạn đối với người được cứu. Điều 39. Chế độ, chính sách đối với người tham gia tìm kiếm, cứu nạn hàng không Người được điều động, huy động tham gia huấn luyện, diễn tập, làm nhiệm vụ tìm kiếm, cứu nạn hàng không được hưởng chế độ, chính sách theo quy định tại Điều 41 của Luật Phòng thủ dân sự và các điều 42, 43 và 44 của Nghị định số 200/2025/NĐ-CP. Chương VIII TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC Điều 40. Trách nhiệm của Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia 1. Chỉ đạo thống nhất, điều phối liên ngành hoạt động tìm kiếm, cứu nạn hàng không; xem xét, trình Trưởng Ban Chỉ đạo ban hành Kế hoạch tìm kiếm, cứu nạn hàng không quốc gia; ban hành Kế hoạch diễn tập tìm kiếm, cứu nạn hàng không cấp quốc gia theo quy định tại khoản 2 Điều 131 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP. 2. Chỉ đạo hoặc chỉ định cơ quan chủ trì; điều động bổ sung lực lượng, phương tiện; chỉ định cơ quan khác chủ trì hoặc trực tiếp chủ trì theo quy định tại Điều 128 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP. 3. Cho ý kiến tham vấn về việc kết thúc, tạm dừng hoặc tiếp tục hoạt động tìm kiếm, cứu nạn trong thời gian ngắn nhất kể từ khi nhận được đề nghị của cơ quan chủ trì. 4. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành trong việc cấp phép, phối hợp với lực lượng, phương tiện nước ngoài tham gia tìm kiếm, cứu nạn tại Việt Nam và đưa lực lượng, phương tiện của Việt Nam tham gia tìm kiếm, cứu nạn ở nước ngoài. 5. Hằng năm tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ về hoạt động phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng không; báo cáo đột xuất khi có tình huống nghiêm trọng. Điều 41. Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng 1. Thực hiện nhiệm vụ cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia đối với công tác tìm kiếm, cứu nạn hàng không; chỉ đạo Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia duy trì đầu mối trực 24 giờ trong ngày để tiếp nhận, tổng hợp và xử lý thông tin về tìm kiếm, cứu nạn hàng không từ các cơ quan, tổ chức và đầu mối có liên quan. 2. Xây dựng và triển khai phương án sử dụng lực lượng, phương tiện của Phòng không - Không quân, Hải quân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển Việt Nam, các quân khu, đơn vị bay trực thăng, Bộ Chỉ huy quân sự cấp tỉnh và lực lượng khác của Quân đội nhân dân sẵn sàng trực và tham gia tìm kiếm, cứu nạn hàng không. 3. Điều động lực lượng, phương tiện của Quân đội nhân dân tham gia tìm kiếm, cứu nạn theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia hoặc theo đề nghị quy định tại Điều 19 của Quy chế này. 4. Chủ trì tổ chức tìm kiếm, cứu nạn tàu bay thực hiện hoạt động hàng không dân dụng trong khu quân sự; chỉ huy các đơn vị thuộc quyền ở khu vực quân đội quản lý và trên các vùng biển theo quy định tại khoản 5 Điều 33 của Luật Phòng thủ dân sự. 5. Chỉ đạo cơ quan quản lý, điều hành bay quân sự, đơn vị quản lý vùng trời thực hiện quy định tại các điều 15, 20 và 21 của Quy chế này; cấp phép bay cho chuyến bay của tàu bay quân sự tham gia tìm kiếm, cứu nạn trong vùng thông báo bay của Việt Nam hoặc trong khu vực do Việt Nam đảm nhiệm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP; tham gia ý kiến về việc cấp phép, phối hợp với lực lượng, phương tiện tìm kiếm, cứu nạn nước ngoài hoạt động trong vùng trời Việt Nam. 6. Chỉ đạo Bộ đội Biên phòng thực hiện thủ tục biên phòng ưu tiên cho lực lượng, phương tiện tìm kiếm, cứu nạn; phối hợp với lực lượng bảo vệ biên giới của nước láng giềng khi tàu bay lâm nạn tại khu vực biên giới. 7. Phối hợp với Bộ Xây dựng trong việc xây dựng Kế hoạch tìm kiếm, cứu nạn hàng không quốc gia, đàm phán thỏa thuận tìm kiếm, cứu nạn với quốc gia kế cận, tổ chức huấn luyện, diễn tập. Điều 42. Trách nhiệm của Bộ Xây dựng 1. Thực hiện quản lý nhà nước về tìm kiếm, cứu nạn hàng không; chủ trì tham mưu cho Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia về tìm kiếm, cứu nạn hàng không theo quy định tại Điều 9 của Quy chế này; xây dựng, báo cáo Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia để trình Trưởng Ban Chỉ đạo ban hành Kế hoạch tìm kiếm, cứu nạn hàng không quốc gia. 2. Bảo đảm thiết lập và duy trì hoạt động của Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không đáp ứng tiêu chuẩn của ICAO; quy định chi tiết về tổ chức cung cấp dịch vụ tìm kiếm, cứu nạn hàng không theo quy định tại khoản 2 Điều 126 của Nghị định số 222/2026/NĐ-CP. 3. Chỉ đạo Ban Chỉ huy Phòng thủ dân sự Bộ Xây dựng, Cục Hàng không Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hàng hải, đường thủy, đường bộ, đường sắt huy động lực lượng, phương tiện thuộc phạm vi quản lý tham gia tìm kiếm, cứu nạn hàng không; chỉ đạo việc phối hợp giữa Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng không với Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam và đầu mối tiếp nhận dữ liệu báo động Cospas-Sarsat. 4. Chủ trì tổ chức đàm phán, ký kết, duy trì thỏa thuận tìm kiếm, cứu nạn hàng không với quốc gia kế cận. 5. Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính bảo đảm cơ chế tài chính cho dịch vụ tìm kiếm, cứu nạn hàng không. 6. Hằng năm báo cáo Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia về công tác tìm kiếm, cứu nạn hàng không. 7. Khi nhận được thông tin tàu bay lâm nạn, báo cáo ngay Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương liên quan đề xuất kế hoạch, phương án tìm kiếm, cứu nạn khi tình huống vượt quá khả năng của cơ quan chủ trì hoặc thuộc thẩm quyền chỉ đạo trực tiếp của Ban Chỉ đạo. Báo
Lịch sử cập nhật nguồn
Ghi nhận hồ sơ từ nguồn chính thức.
Nguồn để đối chiếu
Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.
Mở nguồn chính thức