Đến nội dung chính
Góc LuậtThông tin có nguồn · Biên tập có trách nhiệm
Tra cứu văn bản Văn bản đã lưu (0) Thông báoĐăng nhậpĐăng ký

Chậm trả lương: Doanh nghiệp phải trả thêm tiền lãi

Theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp chậm trả hoặc trả thiếu lương không chỉ bị phạt tiền mà còn buộc phải trả đủ lương kèm tiền lãi tính theo lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của ngân hàng thương mại nhà nước.

Mục lục nội dungThu gọn

Vấn đề tiền lương luôn gắn liền trực tiếp với đời sống và quyền lợi sát sườn của người lao động. Nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của kỷ luật lao động và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người làm công ăn lương, Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định cụ thể chế tài xử phạt hành chính cũng như biện pháp khắc phục hậu quả buộc doanh nghiệp phải bù đắp thỏa đáng khi chậm thanh toán thu nhập.

Doanh nghiệp chậm trả lương bị phạt tới 50 triệu đồng

Hành vi trả lương không đúng hạn, trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động là hành vi vi phạm pháp luật lao động. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 23, người sử dụng lao động có hành vi trả lương không đúng hạn; không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm hoặc ngừng việc sẽ bị áp dụng mức phạt tiền tùy thuộc vào số lượng người lao động bị vi phạm.

Khung tiền phạt đối với các hành vi vi phạm nêu trên được phân cấp chi tiết theo quy mô lao động bị ảnh hưởng:

Số lượng lao động bị vi phạmKhung tiền phạt áp dụngCăn cứ quy định
Từ 01 người đến 10 người lao độngTừ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồngĐiểm a khoản 2 Điều 23
Từ 11 người đến 50 người lao độngTừ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồngĐiểm b khoản 2 Điều 23
Từ 51 người đến 100 người lao độngTừ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồngĐiểm c khoản 2 Điều 23
Từ 101 người đến 300 người lao độngTừ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồngĐiểm d khoản 2 Điều 23
Từ 301 người lao động trở lênTừ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồngĐiểm đ khoản 2 Điều 23

Mức phạt tiền này cũng áp dụng đối với hàng loạt hành vi xâm phạm quyền lợi tiền lương khác của người lao động theo khoản 2 Điều 23, bao gồm việc khấu trừ tiền lương không đúng quy định, ép buộc người lao động chi tiêu lương vào hàng hóa, dịch vụ do đơn vị chỉ định, hoặc không trả đủ tiền lương trong những ngày chưa nghỉ hằng năm khi thôi việc, mất việc làm.

Cách tính tiền lãi chậm trả lương cho người lao động

Bên cạnh hình thức phạt tiền nộp vào ngân sách, điều người lao động quan tâm nhất chính là khoản tiền quyền lợi thực tế nhận về túi mình. Quy định pháp luật buộc người sử dụng lao động không chỉ trả lại số tiền đã giữ lại trái phép mà còn phải thanh toán thêm một khoản chi phí tài chính bồi hoàn cho người lao động.

Cụ thể, theo điểm a khoản 5 Điều 23, biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với người sử dụng lao động là: "Buộc người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này".

Quy định này chỉ rõ các nguyên tắc giải quyết quyền lợi tiền tệ bao gồm:

  • Người phải nộp: Người sử dụng lao động vi phạm quy định về trả lương theo khoản 2 và khoản 3 Điều 23.
  • Người được nhận: Người lao động bị chậm trả hoặc bị trả thiếu tiền lương.
  • Khoản tiền phải trả: Toàn bộ số tiền lương gốc còn nợ cộng thêm khoản tiền lãi phát sinh từ số tiền chậm trả, trả thiếu đó.
  • Căn cứ xác định mức lãi suất: Lãi suất được ấn định dựa trên mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước được công bố tại thời điểm cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định xử phạt.

Chế tài với các vi phạm tiền lương khác

Không chỉ riêng hành vi chậm trả hay trả thiếu theo thỏa thuận hợp đồng, chế tài trả bù lương kèm tiền lãi theo điểm a khoản 5 Điều 23 còn áp dụng bắt buộc đối với hành vi người sử dụng lao động trả lương thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ quy định theo khoản 3 Điều 23. Mức phạt tiền đối với vi phạm lương tối thiểu rất nặng, từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng khi vi phạm từ 01 đến 10 lao động (theo điểm a khoản 3 Điều 23), từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng khi vi phạm từ 11 đến 50 lao động (theo điểm b khoản 3 Điều 23), và từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng nếu vi phạm từ 51 lao động trở lên (theo điểm c khoản 3 Điều 23).

Ngoài ra, đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, người sử dụng lao động có nghĩa vụ chi trả cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền tương đương mức đóng các loại bảo hiểm này. Trường hợp vi phạm theo khoản 4 Điều 23, người sử dụng lao động cũng chịu chế tài khắc phục hậu quả tương tự: buộc trả đủ khoản tiền đóng bảo hiểm cộng tiền lãi theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước tại thời điểm xử phạt theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 23.

Việc nắm rõ các căn cứ xử phạt và cách thức bồi hoàn tiền lãi chậm trả giúp người lao động chủ động yêu cầu bảo vệ quyền lợi, đồng thời nhắc nhở doanh nghiệp nghiêm túc chấp hành nghĩa vụ thanh toán tiền lương đúng hạn, đầy đủ.

Ảnh minh họa AI: tài khoản thanh toán, góc không gian và đời sống
Góc Luật · Ảnh minh họa AI

Nguồn để đối chiếu

Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.

Mở nguồn chính thức

Bài viết liên quan

Xem thêm