Hỗ trợ tối thiểu 2.000.000 đồng khi sinh con được nhận cùng lúc khai sinh
Theo Nghị định 168/2026/NĐ-CP, phụ nữ thuộc diện ưu tiên khi sinh con được Chủ tịch UBND cấp xã quyết định chi trả khoản hỗ trợ tài chính tối thiểu 2.000.000 đồng ngay cùng thời điểm thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh.
Mục lục nội dungThu gọn
Chính sách hỗ trợ tài chính trực tiếp cho phụ nữ khi sinh con đang được áp dụng theo quy định của Nghị định 168/2026/NĐ-CP. Điểm đáng chú ý của chính sách này là việc gắn liền quyền lợi hỗ trợ tiền mặt với quy trình liên thông đăng ký khai sinh, giúp người dân nhận tiền thuận tiện mà không phải phát sinh thêm các thủ tục hành chính phức tạp.
Các trường hợp được nhận hỗ trợ tài chính tối thiểu 2.000.000 đồng
Theo khoản 1 Điều 3, mức hỗ trợ tài chính tối thiểu được xác định là 2.000.000 đồng/phụ nữ khi sinh con đối với các đối tượng cụ thể đáp ứng tiêu chuẩn chính sách dân số.
Các trường hợp phụ nữ sinh con được áp dụng mức hỗ trợ tài chính tối thiểu theo khoản 1 Điều 3 gồm:
| Nhóm đối tượng | Điều kiện áp dụng | Mức hỗ trợ tối thiểu |
|---|---|---|
| Phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người | Thuộc nhóm dân tộc thiểu số rất ít người khi thực hiện sinh con | 2.000.000 đồng/người |
| Phụ nữ tại địa phương mức sinh thấp | Sinh sống tại tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế | 2.000.000 đồng/người |
| Phụ nữ sinh đủ 02 con trước tuổi 35 | Đã hoàn thành sinh đủ 02 người con trước khi tròn 35 tuổi | 2.000.000 đồng/người |
Chi trả hỗ trợ kinh phí ngay cùng thời điểm đăng ký khai sinh
Về trình tự và thẩm quyền giải quyết kinh phí hỗ trợ, theo khoản 2 Điều 3, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) là người có thẩm quyền quyết định việc hỗ trợ kinh phí và trực tiếp thực hiện chi trả khoản tiền này cho phụ nữ sinh con.
Khoản 2 Điều 3 nêu rõ việc xét duyệt được thực hiện tự động và đồng bộ dựa trên nền tảng số hóa. Cụ thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ vào các nguồn thông tin sau để ra quyết định:
- Thông tin từ hệ thống liên thông thủ tục đăng ký khai sinh;
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư;
- Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID);
- Các cơ sở dữ liệu có sẵn khác.
Đặc biệt, theo khoản 2 Điều 3, thời điểm thực hiện chi trả kinh phí hỗ trợ cho người mẹ được tiến hành cùng với thời điểm đăng ký khai sinh cho trẻ sơ sinh. Quy định này cắt giảm tối đa thời gian chờ đợi và giảm bớt đầu mối giấy tờ cho gia đình có trẻ sơ sinh.
Trách nhiệm bảo đảm nguồn kinh phí và tổ chức thực hiện
Để bảo đảm chính sách hỗ trợ được thực hiện đồng bộ đến từng địa bàn, theo điểm b khoản 4 Điều 13, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành văn bản hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chi trả hỗ trợ tài chính khi sinh con theo Điều 3.
Nguồn ngân sách thực hiện chi trả được bảo đảm thông qua sự phân bổ giữa trung ương và địa phương theo các quy định sau:
- Theo điểm a khoản 4 Điều 13, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc bố trí, bảo đảm nguồn kinh phí từ ngân sách địa phương để thực hiện chi trả hỗ trợ.
- Theo điểm a khoản 2 Điều 13, Bộ Tài chính có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế trình cấp có thẩm quyền bố trí ngân sách trung ương phục vụ các hoạt động quy định.
- Theo điểm c khoản 4 Điều 13, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, theo dõi thi hành và kiểm tra, giám sát chặt chẽ toàn bộ việc chi trả hỗ trợ tài chính cho phụ nữ sinh con tại cơ sở.
Ngoài ra, theo điểm c khoản 2 Điều 13, Cơ quan thống kê Trung ương định kỳ công bố tình trạng mức sinh trên toàn quốc và theo từng tỉnh, thành phố tại thời điểm công bố Niên giám thống kê quốc gia hằng năm; đồng thời công bố số liệu dân số theo dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam định kỳ 05 năm một lần vào quý II của các năm có số cuối là 5 và 0 để làm căn cứ xác định các địa phương có mức sinh dưới mức sinh thay thế và đối tượng thụ hưởng theo quy định.
Nguồn để đối chiếu
Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.
Mở nguồn chính thức