Đến nội dung chính
Góc LuậtThông tin có nguồn · Biên tập có trách nhiệm
Tra cứu văn bản Văn bản đã lưu (0) Thông báoĐăng nhậpĐăng ký

Hòa giải thành ở cơ sở có giá trị pháp lý ra sao trước Tòa án?

Theo Luật 16/2026/QH16, các bên tham gia hòa giải thành có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đồng thời có trách nhiệm thực hiện thỏa thuận đã đạt được.

Mục lục nội dungThu gọn

Kết quả hòa giải thành ở cơ sở có giá trị pháp lý làm căn cứ để Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét, công nhận. Cụ thể, theo điểm g khoản 1 Điều 22 và khoản 2 Điều 30 Luật 16/2026/QH16, các bên tham gia hòa giải có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Khi một hoặc các bên có yêu cầu, việc công nhận này sẽ được Tòa án thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Quyền yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải

Theo điểm g khoản 1 Điều 22 Luật 16/2026/QH16, một trong những quyền quan trọng của các bên là yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Quy định này cũng được khẳng định tại khoản 2 Điều 30 Luật 16/2026/QH16, áp dụng trong trường hợp một hoặc các bên yêu cầu Tòa án xem xét.

Theo khoản 1 Điều 2 Luật 16/2026/QH16, hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên và người được mời tham gia hòa giải (nếu có) hỗ trợ, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật. Việc yêu cầu Tòa án công nhận kết quả giúp văn bản hòa giải thành có cơ sở pháp lý vững chắc hơn trong việc thực thi.

Trách nhiệm thực hiện thỏa thuận và ngoại lệ

Dù có yêu cầu Tòa án công nhận hay không, giá trị thực tế của việc hòa giải thành trước hết phụ thuộc vào ý chí tự nguyện chấp hành của các bên tham gia.

Theo khoản 1 Điều 30 Luật 16/2026/QH16, các bên có trách nhiệm thực hiện thỏa thuận hòa giải thành. Đồng thời, theo điểm đ khoản 2 Điều 22 Luật 16/2026/QH16, việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành là một nghĩa vụ bắt buộc của các bên trong hòa giải.

Tuy nhiên, Luật 16/2026/QH16 cũng quy định cụ thể các trường hợp phát sinh ngoại lệ trong quá trình thực hiện cam kết. Theo khoản 1 Điều 30 Luật 16/2026/QH16, nếu một bên không thể thực hiện được thỏa thuận vì sự kiện bất khả kháng hoặc do lỗi của bên kia hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật, bên đó có trách nhiệm trao đổi, thỏa thuận với bên kia và thông báo cho hòa giải viên.

Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hòa giải

Để đạt được kết quả hòa giải thành hợp pháp làm tiền đề cho việc yêu cầu Tòa án công nhận, các bên cần tuân thủ đầy đủ các quyền và nghĩa vụ luật định.

Nội dungQuyền của các bên (khoản 1 Điều 22)Nghĩa vụ của các bên (khoản 2 Điều 22)
Lựa chọn và tham giaLựa chọn, đề xuất hoặc đề nghị thay đổi hòa giải viên, người được mời tham gia, người phiên dịch; lựa chọn, đề xuất hình thức, địa điểm, thời gian hòa giải (điểm a); đồng ý hoặc từ chối hòa giải, yêu cầu tạm dừng hoặc chấm dứt hòa giải (điểm b).Tôn trọng hòa giải viên, người được mời tham gia hòa giải và quyền của các bên có liên quan (điểm b); không gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trong quá trình hòa giải (điểm c).
Thông tin và ý chíYêu cầu việc hòa giải được tiến hành công khai hoặc không công khai (điểm c); được bày tỏ ý chí và quyết định về nội dung hòa giải (điểm d).Trình bày đúng sự thật các tình tiết của vụ, việc; cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan (điểm a).
Hỗ trợ và văn bảnĐề nghị hòa giải viên đề xuất Ủy ban nhân dân cấp xã hỗ trợ bố trí người phiên dịch nếu không thể tự bố trí (điểm đ); yêu cầu hòa giải viên lập văn bản về kết quả hòa giải sau khi kết thúc hòa giải (điểm e).Ký tên hoặc điểm chỉ hoặc xác nhận trong trường hợp đồng ý với các nội dung của văn bản về kết quả hòa giải theo quy định tại khoản 2 Điều 29 (điểm d).
Thực thi kết quảYêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền công nhận kết quả hòa giải thành theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự (điểm g).Thực hiện thỏa thuận hòa giải thành theo quy định tại khoản 1 Điều 30 (điểm đ).

Phạm vi áp dụng và đối tượng hòa giải ở cơ sở

Theo khoản 3 Điều 2 Luật 16/2026/QH16, các bên trong hòa giải bao gồm cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ gia đình, tổ chức có mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định.

Theo khoản 2 Điều 2 Luật 16/2026/QH16, địa bàn cơ sở bao gồm thôn, xóm, làng, ấp, bản, buôn, bon, phum, sóc (gọi chung là thôn); tổ dân phố, khu phố, khối phố, khóm, tiểu khu (gọi chung là tổ dân phố).

Cần lưu ý về phạm vi áp dụng, theo khoản 2 Điều 1 Luật 16/2026/QH16, các quy định này không áp dụng đối với hoạt động hòa giải của tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động, hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu (gọi chung là cấp xã) và hoạt động hòa giải được luật khác quy định.

Ảnh minh họa AI: tiếp nhận hồ sơ, góc thao tác thực tế
Góc Luật · Ảnh minh họa AI

Nguồn để đối chiếu

Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.

Mở nguồn chính thức

Bài viết liên quan

Xem thêm