Đến nội dung chính
Góc LuậtThông tin có nguồn · Biên tập có trách nhiệm
Tra cứu văn bản Văn bản đã lưu (0) Thông báoĐăng nhậpĐăng ký

Sử dụng lao động nước ngoài không phép: Bị xử phạt thế nào?

Theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp sử dụng lao động nước ngoài không phép bị phạt tiền tối đa đến 75 triệu đồng. Bản thân người lao động nước ngoài làm việc không phép sẽ bị xử phạt tới 25 triệu đồng và bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là trục xuất.

Mục lục nội dungThu gọn

Doanh nghiệp có hành vi sử dụng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam mà không có giấy phép lao động hoặc không có giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến tối đa 75.000.000 đồng tùy theo số lượng lao động vi phạm (theo khoản 5 Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP). Đối với người lao động nước ngoài làm việc không phép, ngoài mức phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng (theo khoản 3 Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP), người vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là trục xuất khỏi Việt Nam (theo điểm b khoản 6 Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP).

Mức xử phạt đối với người sử dụng lao động vi phạm quy định giấy phép

Trách nhiệm tuân thủ thủ tục cấp phép lao động trước hết thuộc về người sử dụng lao động. Theo khoản 5 Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, hành vi sử dụng lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam mà không có giấy phép lao động, không có giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động, hoặc sử dụng người lao động nước ngoài có giấy phép lao động đã hết hạn, giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đã hết hiệu lực sẽ bị xử phạt theo các khung cụ thể dựa trên số lượng nhân sự vi phạm.

Số lượng lao động vi phạmKhung tiền phạt áp dụngCăn cứ quy định
Từ 01 người đến 10 người30.000.000 đồng đến 45.000.000 đồngĐiểm a khoản 5 Điều 13
Từ 11 người đến 20 người45.000.000 đồng đến 60.000.000 đồngĐiểm b khoản 5 Điều 13
Từ 21 người trở lên60.000.000 đồng đến 75.000.000 đồngĐiểm c khoản 5 Điều 13

Bên cạnh trường hợp hoàn toàn không có giấy phép, người sử dụng lao động bố trí nhân sự làm việc sai lệch so với hồ sơ cấp phép cũng chịu chế tài nghiêm ngặt. Cụ thể, theo điểm a khoản 2 Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, hành vi sử dụng người lao động nước ngoài làm việc không đúng với nội dung ghi trên giấy phép lao động hoặc giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với mỗi người lao động, tổng mức phạt tối đa không quá 75.000.000 đồng.

Ngoài ra, theo khoản 4 Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động có hành vi sửa chữa, làm sai lệch văn bản, tài liệu hoặc sử dụng giấy tờ, tài liệu giả mạo trong hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, gia hạn giấy phép lao động hoặc giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng. Hành vi này còn đi kèm hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật vi phạm theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.

Chế tài trục xuất và phạt tiền đối với người lao động nước ngoài

Không chỉ người sử dụng lao động bị xử lý hành chính, bản thân người lao động nước ngoài trực tiếp làm việc không tuân thủ quy định pháp luật Việt Nam cũng phải đối mặt với các chế tài trực tiếp.

Căn cứ khoản 3 Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam khi có một trong các hành vi:

  • Làm việc nhưng không có giấy phép lao động hoặc không có giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định của pháp luật (theo điểm a khoản 3 Điều 13);
  • Sử dụng giấy phép lao động hoặc giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đã hết hiệu lực (theo điểm b khoản 3 Điều 13).

Vi phạm nghĩa vụ thông báo, thu hồi và biện pháp khắc phục hậu quả

Các vi phạm về thủ tục hành chính, quản lý hồ sơ và biến động nhân sự nước ngoài cũng chịu các mức phạt tiền và biện pháp xử lý theo quy định hiện hành.

Về trách nhiệm thông báo, theo khoản 1 Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng khi không thông báo, thông báo không đúng thời hạn hoặc thông báo không đầy đủ nội dung liên quan đến các trường hợp không thuộc diện cấp phép hoặc khi người lao động đã được cấp phép/xác nhận có nhu cầu làm việc tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (theo điểm a, điểm b, điểm c khoản 1 Điều 13).

Về việc quản lý và nộp lại văn bản, theo khoản 2 Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với mỗi người lao động (tổng mức phạt không quá 75.000.000 đồng) nếu có hành vi:

  • Không thu hồi hoặc thu hồi không đúng thời hạn giấy phép lao động, giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động để nộp lại cơ quan có thẩm quyền kèm theo văn bản báo cáo (theo điểm b và điểm d khoản 2 Điều 13);
  • Không nộp lại giấy phép lao động hoặc giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động (theo điểm c và điểm đ khoản 2 Điều 13).

Đi kèm với hình thức phạt tiền, tổ chức và cá nhân vi phạm còn phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 7 Điều 13 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, bao gồm buộc thực hiện việc thông báo theo quy định (theo điểm a khoản 7 Điều 13) và buộc nộp lại giấy phép lao động, giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động đã được cấp cho cơ quan có thẩm quyền (theo điểm b khoản 7 Điều 13).

Ảnh minh họa: bản tin chính sách

Nguồn để đối chiếu

Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.

Mở nguồn chính thức

Bài viết liên quan

Xem thêm