Đến nội dung chính
Góc LuậtThông tin có nguồn · Biên tập có trách nhiệm
Tra cứu văn bản Văn bản đã lưu (0) Thông báoĐăng nhậpĐăng ký

Trần nợ công hằng năm không quá 60% GDP: Giới hạn an toàn mới

Chiến lược nợ công điều chỉnh theo Quyết định 1989/QĐ-TTg quy định cụ thể mức trần an toàn với nợ công hằng năm không quá 60% GDP và nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ tối đa 25% tổng thu ngân sách.

Mục lục nội dungThu gọn

Quy định tại Quyết định 1989/QĐ-TTg đã xác lập khung giới hạn kiểm soát nợ công cho giai đoạn 2026 - 2030. Cơ quan quản lý nợ công và tài chính nhà nước triển khai đồng bộ các chỉ tiêu an toàn ngân sách theo hệ thống định mức mới.

Khung chỉ tiêu an toàn nợ công giai đoạn 2026 - 2030

Theo khoản 2 Điều 1, việc kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước thực hiện theo mức được Quốc hội phê duyệt trong dự toán ngân sách nhà nước và kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026 - 2030. Cơ quan điều hành có trách nhiệm bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ công trong giới hạn Quốc hội phê duyệt.

Chỉ tiêu an toànMức khống chế tối đaCăn cứ quy định
Nợ công hằng nămKhông quá 60% GDPKhoản 2 Điều 1
Nợ Chính phủ hằng nămKhông quá 50% GDPKhoản 2 Điều 1
Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủKhông quá 25% tổng thu ngân sách nhà nướcKhoản 2 Điều 1
Nợ nước ngoài hằng năm của quốc giaKhông quá 50% GDPKhoản 2 Điều 1

Ý nghĩa từng con số giới hạn

60% GDP: Trần nợ công hằng năm

Theo khoản 2 Điều 1, nợ công hằng năm được khống chế không quá 60% GDP. Mức trần tạo giới hạn pháp lý tối cao cho tổng quy mô nợ vay khu vực công, ngăn chặn nguy cơ mất cân đối vĩ mô và duy trì an toàn tài chính quốc gia.

50% GDP: Giới hạn nợ Chính phủ và nợ nước ngoài quốc gia

Theo khoản 2 Điều 1, hai chỉ tiêu cùng áp mức trần 50% GDP gồm nợ Chính phủ hằng năm và nợ nước ngoài hằng năm của quốc gia. Tỷ lệ khống chế buộc cơ quan quản lý phân bổ chặt chẽ hạn mức vay trung và dài hạn, giảm áp lực bảo lãnh công và chủ động đối phó với biến động tỷ giá từ vay nước ngoài.

25% tổng thu ngân sách: Ngưỡng trả nợ trực tiếp

Theo khoản 2 Điều 1, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ không quá 25% tổng thu ngân sách nhà nước. Giới hạn giữ dòng tiền chi trả nợ luôn trong khả năng cân đối của nguồn thu ngân sách, bảo đảm thanh khoản Chính phủ tại mọi thời điểm.

Định hướng quản lý nguồn vốn và rủi ro danh mục nợ

Theo khoản 3 Điều 1, việc vay vốn ODA, vay ưu đãi nước ngoài phải gắn với khả năng trả nợ trong dài hạn, ưu tiên cho các dự án hạ tầng then chốt và các lĩnh vực có khả năng lan tỏa cao; lựa chọn nguồn vốn và điều kiện vay phù hợp, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn vay.

Theo khoản 3 Điều 1, chính quyền địa phương phải được quản lý chặt chẽ việc vay, trả nợ, bảo đảm trong hạn mức dư nợ theo quy định của pháp luật; bố trí trả nợ đầy đủ, đúng hạn và tăng cường chủ động quản lý rủi ro từ hoạt động vay của địa phương.

Theo khoản 3 Điều 1, cơ quan quản lý kiểm soát chặt chẽ nghĩa vụ nợ dự phòng, việc đảm bảo nguồn trả nợ được Chính phủ bảo lãnh; quản lý các khoản bảo lãnh đúng quy định, hiệu quả trong phạm vi hạn mức bảo lãnh, tập trung ưu tiên nguồn vốn để bảo lãnh cho các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia được Quốc hội, Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đầu tư. Hạn mức bảo lãnh Chính phủ hằng năm được kiểm soát trong phạm vi hạn mức bảo lãnh Chính phủ 5 năm đã được Quốc hội quyết định; tốc độ tăng dư nợ bảo lãnh Chính phủ và việc quyết định hạn mức trong trường hợp vượt tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội của năm trước thực hiện theo khoản 4 Điều 24 Luật Quản lý nợ công.

Theo khoản 4 Điều 1, vốn vay tập trung đầu tư cho các Chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án quan trọng quốc gia, các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, các chương trình, dự án theo Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV, các dự án trọng điểm, có sức lan tỏa cao, có ý nghĩa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo đột phá thu hút vốn đầu tư theo phương thức đối tác công tư; khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dàn trải, kéo dài.

Nhiệm vụ trọng tâm trong điều hành giai đoạn 2026 - 2030

Theo khoản 6 Điều 1, việc tổ chức triển khai Luật Quản lý nợ công đã được sửa đổi, bổ sung và các văn bản quy định chi tiết phải thực hiện đồng bộ, hiệu quả; tiếp tục rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về quản lý nợ công, bảo đảm đồng bộ với pháp luật về ngân sách nhà nước, đầu tư công và pháp luật có liên quan. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tiếp tục nâng cao chất lượng thống kê, cơ sở dữ liệu về nợ nước ngoài tự vay, tự trả; tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu xây dựng định hướng đổi mới khung chính sách quản lý nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh phù hợp với điều kiện kinh tế, bảo đảm an toàn nợ quốc gia, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Theo khoản 8 Điều 1, phấn đấu đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia có xếp hạng tín nhiệm quốc gia ở mức Đầu tư; tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030.

Theo khoản 9 Điều 1, trong giai đoạn 2, các cơ quan chức năng tiến hành xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 5 năm giai đoạn 2026 - 2030 và kế hoạch vay, trả nợ công hằng năm theo đúng các chỉ tiêu an toàn đã ban hành.

Ảnh minh họa AI: chi đầu tư phát triển, góc không gian và đời sống
Góc Luật · Ảnh minh họa AI

Nguồn để đối chiếu

Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.

Mở nguồn chính thức

Bài viết liên quan

Xem thêm