Trường hợp nào tuyệt đối không được hòa giải ở cơ sở?
Theo Luật 16/2026/QH16, các tranh chấp xâm phạm lợi ích quốc gia, trái đạo đức xã hội hoặc có dấu hiệu xử lý hình sự, xử lý hành chính tuyệt đối không thuộc phạm vi hòa giải ở cơ sở.
Mục lục nội dungThu gọn
Phạm vi hòa giải ở cơ sở theo luật định
Hòa giải ở cơ sở giữ vai trò quan trọng trong việc hàn gắn mâu thuẫn cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, pháp luật xác định rõ ranh giới để tránh tình trạng lạm dụng việc hòa giải nhằm che giấu hành vi vi phạm hoặc xâm phạm trật tự quản lý nhà nước.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 3, việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, nhưng loại trừ hoàn toàn các trường hợp vi phạm lợi ích chung hoặc vi phạm có tính chất pháp lý nghiêm trọng.
Các trường hợp tuyệt đối không được hòa giải ở cơ sở
Theo khoản 1 Điều 3, các bên cùng tổ hòa giải không được thực hiện hoạt động hòa giải ở thôn, tổ dân phố đối với các vụ việc sau:
| Trường hợp loại trừ | Căn cứ quy định | Nội dung chi tiết |
|---|---|---|
| Xâm phạm lợi ích công, quốc gia | Theo điểm a khoản 1 Điều 3 | Mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng theo quy định của pháp luật. |
| Giao dịch trái luật, trái đạo đức | Theo điểm b khoản 1 Điều 3 | Mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội theo quy định của pháp luật. |
| Xử lý hình sự hoặc hành chính | Theo điểm c khoản 1 Điều 3 | Vi phạm pháp luật mà theo quy định bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. |
| Trường hợp luật định khác | Theo điểm d khoản 1 Điều 3 | Mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật. |
Đối với chi tiết các trường hợp này, theo khoản 2 Điều 3, Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động hòa giải
Bên cạnh việc giới hạn phạm vi tiếp nhận vụ việc, pháp luật đặt ra các nguyên tắc bắt buộc để ngăn ngừa việc biến hòa giải thành công cụ né tránh trách nhiệm pháp lý.
Theo khoản 5 Điều 4, nguyên tắc tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở nghiêm cấm hành vi:
Không lợi dụng hòa giải ở cơ sở để ngăn cản các bên liên quan bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật hoặc trốn tránh việc bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý hình sự, trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước và nghĩa vụ với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
Đồng thời, theo khoản 3 Điều 4, hoạt động hòa giải phải tôn trọng ý chí, quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, không xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Các nguyên tắc tổ chức và tiến hành hòa giải
Để bảo đảm tính pháp lý và hiệu quả, quá trình hòa giải phải tuân thủ chặt chẽ các điều kiện sau:
- Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không bắt buộc, áp đặt các bên; khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình theo khoản 1 Điều 4.
- Tuân thủ pháp luật, phù hợp với đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp theo khoản 2 Điều 4.
- Quan tâm đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật, người cao tuổi và người dân tộc thiểu số theo khoản 2 Điều 4.
- Bảo đảm bình đẳng giới trong tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở theo khoản 4 Điều 4.
- Tiến hành linh hoạt, thuận lợi cho các bên, phù hợp với tình hình thực tế và đặc điểm từng vụ việc theo khoản 6 Điều 4.
- Sử dụng tiếng Việt, hoặc hỗ trợ người phiên dịch khi dùng tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số; hỗ trợ ngôn ngữ ký hiệu, chữ riêng cho người khuyết tật theo khoản 7 Điều 4.
Phạm vi loại trừ áp dụng
Theo khoản 2 Điều 1, các quy định này không áp dụng đối với hoạt động hòa giải của tòa án, trọng tài, hòa giải thương mại, hòa giải lao động, hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu và hoạt động hòa giải được luật khác quy định.
Nguồn để đối chiếu
Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.
Mở nguồn chính thức