Đến nội dung chính
Góc LuậtThông tin có nguồn · Biên tập có trách nhiệm
Tra cứu văn bản Văn bản đã lưu (0) Thông báoĐăng nhập

Giáo trình môn học chung trong giáo dục nghề nghiệp: quy trình và mốc cần lưu ý

Quy trình xây dựng chương trình, giáo trình các môn học chung trong giáo dục nghề nghiệp theo Thông tư 82/2026/TT-BGDĐT.

Mục lục nội dungThu gọn

Thông tư 82/2026/TT-BGDĐT quy định quy trình biên soạn, thẩm định và ban hành chương trình, giáo trình môn học chung trong đào tạo trung cấp, cao đẳng. Theo thông tin văn bản trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, thông tư có hiệu lực từ ngày 15/11/2026.

Năm môn học và phạm vi áp dụng

Điều 1 nêu năm môn học chung: Giáo dục chính trị, Ngoại ngữ, Năng lực số, Pháp luật và Giáo dục thể chất. Thông tư áp dụng với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, tổ chức và cá nhân liên quan; đồng thời quy định ngoại lệ đối với chương trình do tổ chức, cơ sở giáo dục nước ngoài triển khai và cấp văn bằng nước ngoài tại Việt Nam theo hình thức liên kết đào tạo với nước ngoài.

Đối với ngành, nghề thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, việc biên soạn, thẩm định và ban hành thực hiện theo Luật Giáo dục nghề nghiệp và pháp luật chuyên ngành.

Ai quyết định biên soạn hoặc lựa chọn?

Theo Điều 3, cơ quan được giao tổ chức biên soạn, ban hành chương trình, giáo trình Giáo dục chính trị thực hiện các bước biên soạn, thẩm định, ban hành để áp dụng thống nhất. Người đứng đầu cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được tự chủ tổ chức biên soạn hoặc lựa chọn, thẩm định và ban hành chương trình, giáo trình bốn môn còn lại theo quy định. Khi lựa chọn sản phẩm do cơ sở khác biên soạn, phải tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Chương trình cần ghi rõ thời lượng theo từng trình độ, đáp ứng chuẩn đầu ra và chuẩn chương trình đào tạo liên quan. Giáo trình phải phù hợp chương trình môn học; cuối mỗi chương hoặc bài có câu hỏi, bài tập và danh mục tài liệu tham khảo có nguồn gốc rõ ràng.

Tổ biên soạn và hội đồng thẩm định chương trình

Điều 4 yêu cầu tổ biên soạn chương trình môn học có ít nhất chín thành viên, gồm các thành phần được quy định như đại diện quản lý, giáo viên hoặc giảng viên, chuyên gia và đại diện người sử dụng lao động. Thành viên phải đáp ứng tiêu chuẩn về trình độ và kinh nghiệm theo thông tư.

Hội đồng thẩm định chương trình cũng có ít nhất chín thành viên; thành viên ngoài cơ quan chủ trì chiếm ít nhất một phần ba. Người tham gia tổ biên soạn chương trình dự kiến thẩm định không đồng thời là thành viên hội đồng thẩm định chương trình đó. Hội đồng kết luận thông qua, thông qua có yêu cầu chỉnh sửa hoặc không thông qua; kết quả là cơ sở xem xét ban hành.

Thông tư còn có quy trình riêng cho biên soạn, thẩm định giáo trình. Cơ sở cần đối chiếu Điều 6 và Điều 7, không tự động áp dụng yêu cầu về hội đồng thẩm định chương trình cho hội đồng thẩm định giáo trình.

Công khai, rà soát và chuyển tiếp

Chương trình, giáo trình được công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành; việc công khai toàn văn thực hiện theo pháp luật về sở hữu trí tuệ, xuất bản và quy định liên quan. Việc rà soát, cập nhật được tổ chức định kỳ không quá năm năm một lần hoặc khi có thay đổi chính sách, pháp luật hay yêu cầu thực tiễn.

Trước ngày 05/9/2027, các cơ quan, đơn vị được giao cần tổ chức biên soạn, thẩm định, ban hành hoặc rà soát, cập nhật theo thẩm quyền. Chương trình, giáo trình đang trong quá trình triển khai hoặc đã thẩm định nhưng chưa ban hành tại thời điểm thông tư có hiệu lực tiếp tục theo quy trình đã triển khai, song phải rà soát đáp ứng yêu cầu của thông tư trước khi ban hành.

Mục đích: để học sinh, sinh viên có thể liên thông

Điều 2 nêu rõ lý do ban hành chương trình các môn học chung: thúc đẩy công nhận kết quả học tập tương đương và liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo, phát triển nguồn nhân lực giáo dục nghề nghiệp. Hiểu mục đích này giúp cơ sở đào tạo cân nhắc khi quyết định tự biên soạn hay lựa chọn chương trình của đơn vị khác, vì kết quả học môn chung của người học còn được dùng để xét miễn trừ, bảo lưu và liên thông.

Yêu cầu đối với chương trình và giáo trình

Chương trình môn học chung phải phù hợp chuẩn chương trình đào tạo của khối ngành, nghề hoặc ngành, nghề đặc thù, phù hợp quy định của pháp luật chuyên ngành nếu có, và không trái chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chương trình ghi rõ thời lượng cho từng trình độ trung cấp, cao đẳng, bảo đảm chuẩn đầu ra.

Giáo trình phải tuân thủ mục tiêu, yêu cầu và nội dung của chương trình tương ứng. Nội dung cần chính xác, cân đối giữa các phần chuyên môn, mức kiến thức, kỹ năng và yêu cầu năng lực của người học phải phù hợp mục tiêu từng chương, bài, phần. Cuối mỗi chương hoặc bài có hệ thống câu hỏi, bài tập; giáo trình có danh mục tài liệu tham khảo với nguồn gốc rõ ràng, trình bày ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu và dùng thuật ngữ chuyên môn phổ biến, nhất quán.

Thẩm quyền: ai thống nhất, ai tự chủ

Thông tư chia thành hai nhóm. Với môn Giáo dục chính trị, cơ quan được giao tổ chức biên soạn, ban hành chương trình, giáo trình sẽ làm để áp dụng thống nhất chung. Với bốn môn Ngoại ngữ, Năng lực số, Pháp luật và Giáo dục thể chất, người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp được tự chủ biên soạn hoặc lựa chọn, thẩm định và ban hành để xây dựng chương trình đào tạo các ngành, nghề. Khi chọn chương trình hoặc giáo trình do cơ sở khác biên soạn, cơ sở phải tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ.

Quy trình biên soạn chương trình môn học

Cơ quan, đơn vị có thẩm quyền thành lập tổ biên soạn gồm ít nhất chín thành viên: đại diện cán bộ quản lý, giáo viên hoặc giảng viên, chuyên gia, đại diện người sử dụng lao động trong lĩnh vực liên quan và đại diện hiệp hội ngành, nghề nếu có. Mỗi thành viên có trình độ đại học trở lên, am hiểu và có kinh nghiệm phát triển chương trình đào tạo liên quan, và có ít nhất ba năm trực tiếp giảng dạy hoặc công tác liên quan đến môn học.

Các bước biên soạn được liệt kê theo thứ tự: xác định vị trí, tính chất môn học; khảo sát thực tế, xác định yêu cầu năng lực của người học và nghiên cứu tài liệu chuyên môn; xác định mục tiêu; thiết kế nội dung tổng quát; thiết kế nội dung chi tiết; xác định điều kiện thực hiện, phương pháp đánh giá, trường hợp miễn trừ, bảo lưu kết quả học tập. Sau đó tổ biên soạn hoàn thiện hồ sơ và dự thảo, báo cáo cơ quan có thẩm quyền để tổ chức thẩm định.

Hội đồng thẩm định làm việc như thế nào

Hội đồng thẩm định có ít nhất chín thành viên, gồm đại diện cơ quan chủ trì, các cơ quan liên quan, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, chuyên gia, doanh nghiệp, hiệp hội và tổ chức nghề nghiệp; thành viên ngoài cơ quan chủ trì chiếm ít nhất một phần ba. Hội đồng có chủ tịch, phó chủ tịch và các ủy viên, trong đó một ủy viên kiêm thư ký. Người đã ở trong tổ biên soạn không được tham gia hội đồng thẩm định chính chương trình đó.

Nội dungQuy định và diễn giải
Điều kiện họpphiên họp phải có ít nhất hai phần ba số thành viên tham dự, trong đó bắt buộc có chủ tịch và thư ký. Quyết định được thông qua khi có ít nhất hai phần ba số thành viên có mặt nhất trí.
Thành viên vắng mặtphải báo lý do trước cho chủ tịch và gửi nhận xét bằng văn bản cho thư ký trước giờ họp; ý kiến này được đọc công khai và là căn cứ thảo luận.
Ba kết luận có thểthông qua không cần chỉnh sửa; thông qua nhưng yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung và nêu nội dung cụ thể; hoặc không thông qua và nêu lý do. Kết luận phải ghi rõ trong phiếu đánh giá.
Sau thẩm địnhnếu yêu cầu chỉnh sửa, tổ biên soạn hoàn thiện kèm báo cáo giải trình và xác nhận của chủ tịch hội đồng. Nếu không thông qua, chủ tịch hội đồng quyết định phương án thẩm định lại.
Thời hạn báo cáotrong 05 ngày làm việc kể từ khi kết thúc họp, hội đồng gửi báo cáo kết quả cho cơ quan có thẩm quyền; hồ sơ gồm nhận xét và phiếu đánh giá của từng thành viên, biên bản họp, báo cáo quá trình và kết quả thẩm định, dự thảo hoàn chỉnh.

Giáo trình: quy trình song song

Giáo trình đi theo quy trình tương tự nhưng tách riêng: tổ biên soạn giáo trình, hội đồng thẩm định giáo trình, với cùng yêu cầu về số lượng thành viên và tỷ lệ thành viên ngoài. Điểm khác nằm ở bước biên soạn, tính theo từng chương hoặc bài: xác định vị trí, tính chất của chương hoặc bài; khảo sát và nghiên cứu tài liệu; xác định mục tiêu; xây dựng nội dung học tập; thiết kế câu hỏi ôn tập và các nội dung liên quan. Cơ sở không nên mặc định sao chép nguyên cấu trúc hồ sơ của chương trình sang giáo trình mà cần đối chiếu các điều tương ứng.

Ban hành, kinh phí và công khai

Sau khi nhận báo cáo thẩm định, cơ quan có thẩm quyền xem xét và quyết định ban hành chương trình, giáo trình. Kinh phí biên soạn, thẩm định, ban hành và rà soát, cập nhật lấy từ ngân sách nhà nước trong dự toán hằng năm, các nguồn tài trợ, viện trợ và nguồn thu hợp pháp khác; cơ sở giáo dục nghề nghiệp quyết định việc sử dụng theo pháp luật về ngân sách.

Chương trình, giáo trình được công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành, với việc công khai toàn văn tuân theo pháp luật về sở hữu trí tuệ và xuất bản. Việc rà soát, cập nhật diễn ra định kỳ, không quá năm năm một lần, hoặc khi có thay đổi chủ trương, chính sách, pháp luật hoặc yêu cầu từ thực tiễn giảng dạy, học tập; kết quả rà soát phải phù hợp thông tư và chuẩn chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp.

Việc cần làm trước mốc 05/9/2027

Các cơ quan, đơn vị được giao biên soạn phải tổ chức biên soạn, thẩm định, ban hành hoặc rà soát, cập nhật chương trình, giáo trình môn học chung trước ngày 05/9/2027. Cơ sở nên lập kế hoạch ngược từ mốc này: dựng tổ biên soạn đủ tiêu chuẩn, lên lịch cho hội đồng thẩm định, dành thời gian cho vòng chỉnh sửa và thẩm định lại, rồi mới tính đến ban hành và công khai. Hồ sơ cần lưu giữ biên bản, phiếu đánh giá, báo cáo giải trình để chứng minh đúng quy trình khi được kiểm tra.

Nguồn: Thông tư 82/2026/TT-BGDĐT trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ; toàn văn thông tư.

Ảnh minh họa: người dân và cộng đồng

Nguồn để đối chiếu

Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.

Mở nguồn chính thức

Bài viết liên quan cùng chuyên đề

Xem thêm