Ai có thẩm quyền công nhận danh sách hộ nghèo và hộ cận nghèo?
Theo Thông tư 46/2026/TT-BNNMT, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, trong khi người dân chịu trách nhiệm về tính trung thực của thông tin kê khai.
Mục lục nội dungThu gọn
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã là người có thẩm quyền ban hành quyết định công nhận danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ thoát nghèo trên địa bàn quản lý.
Thẩm quyền công nhận hộ nghèo và hộ cận nghèo
Theo Bảng 1, STT 2, danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo được xác lập chính thức theo Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng cấu thành dữ liệu gốc trong hệ sinh thái cơ sở dữ liệu lĩnh vực giảm nghèo, phục vụ việc cấp giấy chứng nhận cũng như thực hiện các chính sách an sinh xã hội liên quan.
Trách nhiệm thu thập và tạo lập dữ liệu của cơ quan cấp xã
Không chỉ người đứng đầu giữ thẩm quyền ban hành quyết định, bộ máy chính quyền cấp cơ sở đóng vai trò then chốt trong chu trình dữ liệu rà soát nghèo đa chiều. Cụ thể, theo điểm c khoản 3 Điều 10:
- Ủy ban nhân dân cấp xã là đơn vị tạo lập dữ liệu, trực tiếp tổ chức thu thập, cập nhật dữ liệu lĩnh vực giảm nghèo.
- Chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ, kịp thời, an toàn của dữ liệu được tạo lập.
- Chịu trách nhiệm hiệu chỉnh dữ liệu sai lệch phát sinh do quá trình tạo lập, cập nhật.
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ theo quy định và khai thác, sử dụng dữ liệu được cấp quyền theo điểm c khoản 2 Điều 21.
Nghĩa vụ và trách nhiệm kê khai của người dân
Quy trình xác định đối tượng thụ hưởng chính sách giảm nghèo đòi hỏi sự tham gia trực tiếp và minh bạch từ phía cơ sở xóm, thôn và từng gia đình. Theo khoản 3 Điều 21, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân liên quan có các nghĩa vụ cụ thể sau:
| Nội dung | Nghĩa vụ cụ thể theo quy định |
|---|---|
| Cung cấp thông tin | Thực hiện việc cung cấp thông tin theo quy định về rà soát, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo và quy định pháp luật có liên quan theo điểm a khoản 3 Điều 21. |
| Tính chính xác | Chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin, dữ liệu do mình cung cấp hoặc tạo lập theo điểm b khoản 3 Điều 21. |
| Kiểm tra, xác minh | Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong việc kiểm tra, xác minh thông tin theo quy định về rà soát, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo theo điểm c khoản 3 Điều 21. |
| Khai thác dữ liệu | Khai thác, sử dụng dữ liệu được cung cấp hoặc được cấp quyền theo đúng thẩm quyền, mục đích và phạm vi sử dụng; tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước, an toàn thông tin theo điểm d khoản 3 Điều 21. |
Trách nhiệm phối hợp của các cơ quan liên quan
Bên cạnh thẩm quyền trực tiếp của cấp xã, công tác quản trị và vận hành dữ liệu giảm nghèo được phối hợp triển khai xuyên suốt giữa các cấp quản lý:
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm bảo đảm bố trí nguồn lực, hạ tầng, nhân lực, điều kiện cần thiết để triển khai, vận hành, cập nhật và bảo đảm an toàn dữ liệu lĩnh vực giảm nghèo tại địa phương theo điểm a khoản 2 Điều 21.
- Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức quản trị, quản lý dữ liệu lĩnh vực giảm nghèo tại địa phương; bảo đảm thời hạn, chất lượng dữ liệu và tổ chức cập nhật, kết nối, đồng bộ, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu ở trung ương theo điểm b khoản 3 Điều 10 và điểm b khoản 2 Điều 21.
- Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình MTQG chủ trì quản lý, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra và duy trì tổ chức cập nhật dữ liệu thường xuyên theo điểm a khoản 3 Điều 10 và điểm a khoản 1 Điều 21.
- Cục Chuyển đổi số chịu trách nhiệm vận hành, bảo đảm hạ tầng số, an toàn thông tin, kết nối chia sẻ dữ liệu theo điểm b khoản 1 Điều 21.
Nguồn để đối chiếu
Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.
Mở nguồn chính thức