Đến nội dung chính
Góc LuậtThông tin có nguồn · Biên tập có trách nhiệm
Tra cứu văn bản Văn bản đã lưu (0) Thông báoĐăng nhậpĐăng ký

Từ 15/12/2026, người dân tra cứu hồ sơ giảm nghèo qua VNeID và Cổng DVCQG

Kể từ ngày 15/12/2026, chủ thể dữ liệu có thể trực tiếp tra cứu hồ sơ giảm nghèo của mình qua ứng dụng VNeID và Cổng Dịch vụ công quốc gia theo Thông tư số 46/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Mục lục nội dungThu gọn

Kể từ ngày 15/12/2026, chủ thể dữ liệu có thể trực tiếp tra cứu hồ sơ giảm nghèo của mình qua ứng dụng VNeID và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây là nội dung quan trọng được quy định tại Thông tư số 46/2026/TT-BNNMT của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành ngày 29/10/2026 quy định Kiến trúc dữ liệu, Khung quản trị, quản lý dữ liệu và Từ điển dữ liệu lĩnh vực giảm nghèo.

Quy định mới này tác động trực tiếp đến người dân, hộ gia đình tham gia rà soát và thụ hưởng chính sách giảm nghèo, đồng thời xác lập quy trình xử lý, tạo lập dữ liệu minh bạch từ cấp cơ sở đến trung ương trên môi trường số thống nhất.

Quyền lợi tiếp cận thông tin hồ sơ giảm nghèo trên môi trường điện tử

Theo kiến trúc dữ liệu lĩnh vực giảm nghèo, người dân và hộ gia đình đóng vai trò kép: vừa là đối tượng cung cấp thông tin trong quá trình rà soát, vừa là bên khai thác dữ liệu để giám sát quyền lợi thụ hưởng chính sách. Khi quy định có hiệu lực từ ngày 15/12/2026, người dân có thể tra cứu trực tuyến thông tin về kết quả rà soát, chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo mà không phải phụ thuộc vào việc kiểm tra sổ sách giấy tờ tại địa phương.

Hệ thống phân định cụ thể phương thức khai thác và sử dụng thông tin giữa các nhóm đối tượng:

  • Chủ thể dữ liệu: Được bảo đảm quyền trực tiếp tra cứu thông tin hồ sơ của mình qua ứng dụng định danh quốc gia VNeID và Cổng Dịch vụ công quốc gia. VNeID cũng đóng vai trò là kênh tiếp nhận hồ sơ thủ tục hành chính khi dịch vụ công được tích hợp.
  • Cán bộ quản lý các cấp: Tra cứu, tải dữ liệu theo thẩm quyền phân cấp để phục vụ công tác quản lý nhà nước, chỉ đạo điều hành và triển khai thực hiện các chính sách giảm nghèo.
  • Cộng đồng và xã hội: Tiếp cận các danh mục dữ liệu mở qua Cổng Dữ liệu quốc gia và các cổng dữ liệu mở theo quy định.

Phân tầng cơ sở dữ liệu lĩnh vực giảm nghèo

Cơ sở dữ liệu lĩnh vực giảm nghèo thuộc miền dữ liệu nông thôn mới (mã DRM002.017.007.003), được tổ chức tập trung trên hạ tầng kỹ thuật dùng chung và vận hành theo 07 lớp dữ liệu. Các thông tin phản ánh toàn diện tình trạng và biến động của từng hộ gia đình qua các nhóm dữ liệu cốt lõi.

Nhóm dữ liệuSố lượng dữ liệuNội dung thành phần cụ thểMục đích và phương thức xử lý
Dữ liệu gốc3 dữ liệuDữ liệu rà soát, đánh giá, chấm điểm của hộ gia đình; Danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo; Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo.Tạo lập từ cơ sở, thu thập qua rà soát thực tế; được chuẩn hóa và làm sạch để đưa vào kho dữ liệu chủ.
Dữ liệu chủ2 dữ liệuHồ sơ Hộ gia đình và Thành viên hộ gia đình.Là nguồn tin cậy duy nhất; cấp mã hộ duy nhất, ổn định; xác thực số định danh cá nhân với CSDLQG về dân cư; chuẩn hóa địa chỉ và hợp nhất hộ trùng.
Dữ liệu mở5 dữ liệuThống kê hộ nghèo, hộ cận nghèo; Thống kê theo nhóm đối tượng; Thống kê theo nhóm dân tộc; Thống kê theo nguyên nhân nghèo; Chuẩn nghèo đa chiều và tiêu chí rà soát.Được tổng hợp, ẩn danh từ dữ liệu chủ để công khai phục vụ nghiên cứu, giám sát và chia sẻ cho cộng đồng.

Bên cạnh các lớp dữ liệu nêu trên, hệ thống thiết lập 14 dữ liệu danh mục dùng chung (tham chiếu) để làm căn cứ áp mã, kiểm tra hợp lệ, chấm điểm và phân loại hộ. Các danh mục này bao gồm: chuẩn nghèo đa chiều quốc gia, chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, ngưỡng phân loại hộ gia đình, phân loại hộ gia đình, loại biến động hộ nghèo, loại rà soát, khu vực, bảng điểm chỉ tiêu dinh dưỡng, quan hệ với chủ hộ, dân tộc, trình độ văn hóa, trình độ đào tạo, tình trạng bảo hiểm y tế và bệnh hiểm nghèo.

Trách nhiệm của các cấp chính quyền và người dân khi triển khai

Kiến trúc dữ liệu phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của từng chủ thể tham gia quy trình dữ liệu:

  • Ủy ban nhân dân cấp xã và người rà soát: Trực tiếp tạo lập dữ liệu ban đầu tại địa phương thông qua quá trình đánh giá, chấm điểm hộ gia đình tại cơ sở.
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Bố trí đầy đủ nguồn lực thực hiện; chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường trực tiếp chịu trách nhiệm quản trị, quản lý dữ liệu tại địa phương.
  • Cơ quan trung ương: Bộ Nông nghiệp và Môi trường là chủ sở hữu dữ liệu; Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia là chủ quản dữ liệu; Cục Chuyển đổi số vận hành hạ tầng số và nền tảng dùng chung.
  • Hộ gia đình: Có trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin trung thực, chính xác trong các đợt rà soát định kỳ hoặc đột xuất, đồng thời theo dõi hồ sơ của gia đình qua ứng dụng VNeID.

Quy định chuyển tiếp đối với các hệ thống dữ liệu hiện hành

Để bảo đảm việc vận hành thông suốt và không làm gián đoạn chính sách trợ cấp xã hội, các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu lĩnh vực giảm nghèo đã xây dựng, vận hành trước ngày 15/12/2026 được tiếp tục hoạt động trong thời gian thực hiện phương án chuyển đổi và chuẩn hóa dữ liệu. Đối với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu đang trong quá trình xây dựng hoặc nâng cấp trước ngày Thông tư có hiệu lực thi hành, các đơn vị liên quan phải chủ động rà soát, điều chỉnh nội dung để bảo đảm tương thích với khung kiến trúc mới.

Hạ tầng kỹ thuật của hệ thống được vận hành chính tại Trung tâm dữ liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đồng thời lưu trữ dự phòng tại Trung tâm dữ liệu quốc gia qua mạng truyền số liệu chuyên dùng, đáp ứng an toàn dữ liệu 08 lớp từ L1 đến L8. Trong quá trình triển khai, nếu phát sinh khó khăn, vướng mắc, các cơ quan, tổ chức và cá nhân gửi phản ánh về Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia để tổng hợp, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi trường xử lý.

Ảnh minh họa AI: người dân nộp hồ sơ tại quầy dịch vụ hành chính
Góc Luật · Ảnh minh họa AI

Nguồn để đối chiếu

Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.

Mở nguồn chính thức

Bài viết liên quan cùng chuyên đề

Xem thêm