Báo cáo năm của tổ chức hành nghề luật sư: Chậm nhất ngày 05 tháng cuối kỳ
Theo Văn bản hợp nhất 8/2026/VBHN-TT-BTP, tổ chức hành nghề luật sư và luật sư cá nhân phải hoàn thành nghĩa vụ gửi báo cáo năm chậm nhất vào ngày 05 của tháng cuối kỳ báo cáo.
Mục lục nội dungThu gọn
Những con số cốt lõi về chế độ báo cáo theo Điều 23
Chế độ thông tin, báo cáo là nghĩa vụ bắt buộc nhằm phục vụ quản lý nhà nước và theo dõi hoạt động hành nghề. Theo Điều 23, các tổ chức hành nghề luật sư, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân và các cơ quan liên quan phải tuân thủ nghiêm ngặt các mốc thời gian và định kỳ báo cáo được xác định cụ thể bằng những con số sau:
Con số 05: Hạn chót gửi báo cáo năm của tổ chức hành nghề và cá nhân
Theo khoản 1 Điều 23, thời gian gửi báo cáo năm của tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, luật sư hành nghề với tư cách cá nhân và tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam chậm nhất vào ngày 05 của tháng cuối kỳ báo cáo.
Ý nghĩa đối với người hành nghề: Đây là mốc thời gian chốt sổ hồ sơ năm. Mọi tài liệu về tổ chức và kết quả hoạt động phải được chuẩn bị, phê duyệt và chuyển đi trước ngày 05 để bảo đảm tiến độ quản lý của cơ quan tiếp nhận.
Con số 06: Chu kỳ cập nhật số liệu hoạt động
Theo khoản 1 Điều 23, tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam thực hiện việc cập nhật số liệu về tổ chức, hoạt động định kỳ 06 tháng theo biểu mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 03/2019/TT-BTP ngày 20 tháng 3 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định một số nội dung về hoạt động thống kê của Ngành Tư pháp.
Ý nghĩa đối với người hành nghề: Bên cạnh nghĩa vụ tổng kết năm, các đơn vị phải duy trì theo dõi dữ liệu nội bộ liên tục để cung cấp số liệu thống kê nửa năm một lần, bảo đảm thông tin hành nghề được cập nhật xuyên suốt giữa kỳ.
Con số 10: Hạn chót báo cáo năm của Đoàn Luật sư
Theo khoản 2 Điều 23, thời gian gửi báo cáo năm của Đoàn Luật sư chậm nhất vào ngày 10 của tháng cuối kỳ báo cáo. Nội dung thực hiện theo quy định tại Điều 22 và Điều 25 của Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ.
Ý nghĩa đối với tổ chức xã hội - nghề nghiệp: Đoàn Luật sư chỉ có 05 ngày (tính từ ngày 05 đến ngày 10) để tổng hợp toàn bộ báo cáo thu nhận từ các tổ chức hành nghề luật sư và luật sư cá nhân trên địa bàn, hoàn thiện báo cáo cấp đoàn.
Con số 15: Hạn chót báo cáo của Liên đoàn Luật sư Việt Nam
Theo khoản 2 Điều 23, báo cáo năm của Liên đoàn Luật sư Việt Nam gửi chậm nhất vào ngày 15 của tháng cuối kỳ báo cáo, thực hiện theo quy định tại Điều 22 và Điều 25 của Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ.
Ý nghĩa: Khung hạn định hình rõ luồng chuyển tiếp dữ liệu thống kê từ cấp cá nhân, tổ chức cơ sở lên tổ chức cấp tỉnh và cơ quan đại diện luật sư toàn quốc.
Bảng so sánh hạn chót gửi báo cáo năm theo các nhóm chủ thể
Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 23 thiết lập quy trình báo cáo phân cấp theo tiến độ thời gian chặt chẽ:
| Chủ thể thực hiện | Thời hạn gửi chậm nhất | Cơ quan tiếp nhận báo cáo |
|---|---|---|
| Tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam; Luật sư cá nhân | Ngày 05 của tháng cuối kỳ báo cáo (theo khoản 1 Điều 23) | Đoàn Luật sư và Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở hoặc đăng ký hành nghề |
| Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam | Ngày 05 của tháng cuối kỳ báo cáo (theo khoản 1 Điều 23) | Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp nơi đặt trụ sở |
| Đoàn Luật sư | Ngày 10 của tháng cuối kỳ báo cáo (theo khoản 2 Điều 23) | Theo quy định tại Điều 22 và Điều 25 Nghị định số 123/2013/NĐ-CP |
| Liên đoàn Luật sư Việt Nam | Ngày 15 của tháng cuối kỳ báo cáo (theo khoản 2 Điều 23) | Theo quy định tại Điều 22 và Điều 25 Nghị định số 123/2013/NĐ-CP |
Trách nhiệm báo cáo của cơ quan quản lý và chế độ đột xuất
Theo khoản 3 Điều 23, định kỳ hằng năm, Sở Tư pháp có trách nhiệm lập báo cáo gửi Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về tổ chức và hoạt động luật sư tại địa phương. Nội dung báo cáo này được thể hiện trong Báo cáo kết quả công tác tư pháp hằng năm theo Thông tư số 12/2019/TT-BTP ngày 31 tháng 12 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định chế độ báo cáo định kỳ thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp.
Về việc thực hiện các yêu cầu báo cáo phát sinh, văn bản quy định cụ thể hai mức độ:
- Đối với tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam: Theo khoản 1 Điều 23, phải thực hiện báo cáo đột xuất về tổ chức và hoạt động của mình theo yêu cầu của Bộ Tư pháp hoặc Sở Tư pháp.
- Đối với địa phương: Theo khoản 3 Điều 23, việc báo cáo đột xuất về tổ chức và hoạt động luật sư tại địa phương thực hiện theo yêu cầu của Bộ Tư pháp hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Nguồn để đối chiếu
Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.
Mở nguồn chính thức