Cấm bắt dân khai lại thông tin cơ quan nhà nước đã có từ 1/12/2026
Theo Thông tư 60/2026/TT-BKHCN, từ ngày 1/12/2026, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tuyệt đối không được yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp hoặc khai báo lại các thông tin, dữ liệu mà cơ quan nhà nước đã có sẵn hoặc có thể khai thác.
Mục lục nội dungThu gọn
Kể từ ngày 1/12/2026, các cơ quan giải quyết thủ tục hành chính trên cả nước sẽ phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định cấm yêu cầu người dân, doanh nghiệp nộp lại giấy tờ, dữ liệu đã tồn tại trong hệ thống số của Nhà nước. Đây là nội dung cốt lõi nhằm giảm phiền hà, xóa bỏ tình trạng "lạm quyền" đòi hỏi giấy tờ trùng lặp khi giải quyết thủ tục công trực tuyến cũng như trực tiếp.
Nghiêm cấm bắt người dân khai báo lại dữ liệu đã có
Theo khoản 6 Điều 5, Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính không được yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp hoặc khai báo lại thông tin, dữ liệu mà cơ quan nhà nước đã có hoặc có thể khai thác từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin có kết nối, chia sẻ dữ liệu theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Quy định cấm này đặt dấu chấm hết cho tình trạng người dân phải đi xin xác nhận, xuất trình nhiều loại giấy tờ hoặc nhập đi nhập lại các trường dữ liệu định danh, thông tin cư trú hay giấy phép mà cơ quan quản lý đã nắm giữ trong các cơ sở dữ liệu dùng chung.
Yêu cầu kỹ thuật bắt buộc để bảo đảm việc tái sử dụng thông tin
Để quy định cấm nêu trên được thực thi đầy đủ trên thực tế, hạ tầng số phục vụ dịch vụ công phải đáp ứng hàng loạt tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt. Theo khoản 4 Điều 5, hệ thống phải có khả năng kết nối, chia sẻ, khai thác dữ liệu với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu phục vụ giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến để sử dụng lại thông tin, dữ liệu đã có, phục vụ giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường mạng.
Các đầu mối dữ liệu kết nối bắt buộc theo khoản 4 Điều 5 bao gồm:
- Cổng Dịch vụ công quốc gia;
- Các hệ thống thông tin nội bộ và phần mềm chuyên ngành của bộ, tỉnh;
- Các cơ sở dữ liệu quốc gia;
- Cơ sở dữ liệu chuyên ngành;
- Hệ thống thông tin có quy mô, phạm vi từ trung ương đến địa phương.
Bên cạnh đó, theo khoản 1 Điều 5, việc xây dựng hệ thống phải bảo đảm các yêu cầu quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ngày 24 tháng 6 năm 2026 của Chính phủ. Đồng thời, theo khoản 2 Điều 5, hệ thống phải tuân thủ quy định pháp luật về thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia, thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.
Theo khoản 3 Điều 5, hệ thống phải tuân thủ kiến trúc Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia theo quy định hiện hành. Ngoài ra, theo khoản 5 Điều 5, hồ sơ điện tử sau khi giải quyết thủ tục hành chính phải được hình thành đầy đủ thành phần hồ sơ điện tử phục vụ công tác lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ; đồng thời bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, hạn chế trùng lặp, chồng chéo trong đầu tư, xây dựng và vận hành theo khoản 7 Điều 5.
Lộ trình chuyển tiếp và thời hạn hoàn thành nâng cấp hệ thống
Quy chuẩn mới sắp chính thức áp dụng, tạo áp lực chuyển đổi lớn đối với các cơ quan chủ quản vận hành hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính các cấp.
| Đối tượng áp dụng | Căn cứ quy định | Thời hạn và yêu cầu thực hiện |
|---|---|---|
| Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính nói chung | Khoản 1 Điều 20 | Bắt đầu áp dụng toàn bộ quy định mới kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2026. |
| Hệ thống đã xây dựng và đang vận hành trước ngày quy định mới có hiệu lực | Khoản 3 Điều 20 | Được tiếp tục áp dụng tiêu chuẩn cũ trong thời gian chỉnh sửa, nhưng thời gian chuyển tiếp không quá 06 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành. |
| Cơ quan chủ quản Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính | Khoản 4 Điều 20 | Có trách nhiệm rà soát, xây dựng lộ trình và hoàn thành việc chỉnh sửa, nâng cấp trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành; khuyến khích áp dụng ngay từ ngày có hiệu lực. |
Nguồn để đối chiếu
Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.
Mở nguồn chính thức