Ngành gỗ hướng tới mốc xuất khẩu trên 20 tỷ USD vào năm 2030
Theo Quyết định 2018/QĐ-TTg, quy hoạch đặt chỉ tiêu xuất khẩu lâm sản vượt 20 tỷ USD vào năm 2030, đòi hỏi doanh nghiệp khai thác và chế biến gỗ phải vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc gỗ nguyên liệu hợp pháp.
Mục lục nội dungThu gọn
Quyết định 2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã chính thức có hiệu lực thi hành. Văn bản đặt ra hệ thống chỉ tiêu phát triển kinh tế lâm nghiệp với quy mô lớn, đồng thời tạo khung hành lang quản lý chặt chẽ đối với các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác, chế biến và thương mại lâm sản trên phạm vi toàn quốc.
Chỉ tiêu tăng trưởng và mục tiêu giá trị ngành lâm nghiệp đến năm 2030
Về mục tiêu cụ thể đến năm 2030, theo điểm b khoản 3 Điều 1, tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân giai đoạn 2026 - 2030 được xác định đạt từ 5,0% đến 5,5%/năm. Cùng với đó, chỉ tiêu thương mại được phân bổ đồng bộ cho cả hai mũi nhọn xuất khẩu và tiêu thụ nội địa: giá trị xuất khẩu lâm sản đạt trên 20 tỷ USD vào năm 2030, trong khi giá trị tiêu thụ lâm sản thị trường trong nước đạt 6 đến 7 tỷ USD vào năm 2030.
Các chỉ tiêu tổng hợp đến năm 2030 tại điểm b khoản 3 Điều 1 phản ánh bước chuyển hướng phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp:
| Nhóm mục tiêu | Chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030 | Vị trí quy định |
|---|---|---|
| Kinh tế - Tăng trưởng sản xuất | Tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt 5,0% - 5,5%/năm | Điểm b khoản 3 Điều 1 |
| Kinh tế - Kim ngạch xuất khẩu | Giá trị xuất khẩu lâm sản đạt trên 20 tỷ USD | Điểm b khoản 3 Điều 1 |
| Kinh tế - Thị trường nội địa | Giá trị tiêu thụ lâm sản thị trường trong nước đạt 6 đến 7 tỷ USD | Điểm b khoản 3 Điều 1 |
| Xã hội - Đào tạo nghề | Tỷ lệ lao động trong sản xuất lâm nghiệp được đào tạo nghề làm việc trong lâm nghiệp từ 20% lên 30% | Điểm b khoản 3 Điều 1 |
| Môi trường - Tỷ lệ che phủ | Bảo đảm tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ổn định ở mức 42% | Điểm b khoản 3 Điều 1 |
Quy hoạch đất lâm nghiệp và phát triển vùng nguyên liệu gỗ
Để bảo đảm nguồn cung phục vụ sản xuất và kinh doanh, theo điểm a khoản 4 Điều 1, tổng diện tích đất lâm nghiệp quy hoạch đến năm 2030 là 15.550,53 nghìn ha, với diện tích đất lâm nghiệp có rừng đạt 14.074,89 nghìn ha. Trong cơ cấu này, đất rừng sản xuất giữ vai trò trung tâm đối với hoạt động công nghiệp gỗ, chiếm 7.981,18 nghìn ha (diện tích đất có rừng là 7.053,18 nghìn ha, tương ứng 88,37% diện tích rừng sản xuất). Phần diện tích còn lại bao gồm đất rừng phòng hộ 5.084,57 nghìn ha và đất rừng đặc dụng 2.484,78 nghìn ha quy hoạch trên 216 khu rừng đặc dụng theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1.
Về định hướng phát triển nguồn nguyên liệu tập trung, theo điểm b khoản 4 Điều 1, chỉ tiêu trồng rừng giai đoạn 2026 - 2030 được phân bổ từ 1.250 đến 1.500 nghìn ha, bình quân từ 250 đến 300 nghìn ha/năm. Đáng chú ý, diện tích rừng trồng gỗ lớn được quy hoạch đạt 1.200 nghìn ha vào năm 2030. Cơ cấu chất lượng giống cũng được chuẩn hóa: đưa tỷ lệ giống cây trồng lâm nghiệp mới có năng suất cao, giống được công nhận vào sản xuất, sử dụng giống sản xuất bằng công nghệ nuôi cấy mô, hom đạt 60 - 70% theo điểm b khoản 4 Điều 1.
Bên cạnh công tác trồng mới, công tác quản lý và chứng nhận vùng trồng được thắt chặt. Theo điểm c khoản 4 Điều 1, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đến năm 2030 phải đạt trên 1.000 nghìn ha. Đồng thời, theo điểm c khoản 4 Điều 1, việc giao rừng gắn với giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư đối với diện tích đang tạm giao Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý phải hoàn thành đến năm 2030.
Rủi ro tuân thủ và yêu cầu đối với doanh nghiệp
Theo điểm đ khoản 4 Điều 1, định hướng khai thác đặt ra nghĩa vụ bắt buộc là thiết lập và vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc gỗ nguyên liệu hợp pháp; ứng dụng công nghệ, thiết bị trong khai thác, vận chuyển gỗ, lâm sản. Đây là căn cứ kỹ thuật quan trọng nhằm đáp ứng tiêu chuẩn kiểm soát chuỗi cung ứng.
Theo điểm c khoản 4 Điều 1, công nghệ cao sẽ được ứng dụng sâu vào công tác quản lý, theo dõi, giám sát và bảo vệ rừng. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp khai thác và chế biến gỗ phải nâng cao năng lực giám sát độc lập, bảo đảm nguồn lâm sản đầu vào đáp ứng đầy đủ điều kiện hợp pháp, đồng thời chủ động liên kết với các chủ rừng đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững.
Nguồn để đối chiếu
Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.
Mở nguồn chính thức