Đến nội dung chính
Góc LuậtThông tin có nguồn · Biên tập có trách nhiệm
Tra cứu văn bản Văn bản đã lưu (0) Thông báoĐăng nhậpĐăng ký

Nợ thuế quá 90 ngày: Thủ tục xin nộp dần trong 12 tháng

Theo Luật 108/2025/QH15, khoản nợ thuế quá 90 ngày sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, nhưng người nộp thuế được phép nộp dần trong 12 tháng nếu có đề nghị và được tổ chức tín dụng bảo lãnh.

Mục lục nội dungThu gọn

Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật 108/2025/QH15, người nộp thuế có tiền thuế nợ quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp theo quy định sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế. Đây là mốc thời gian pháp lý mang tính bước ngoặt, chuyển trạng thái xử lý nghĩa vụ nợ thuế từ đôn đốc thông thường sang áp dụng chế tài bắt buộc.

Tuy nhiên, tại khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15, pháp luật cũng mở ra giải pháp hỗ trợ dòng tiền thông qua cơ chế nộp dần trong 12 tháng. Biện pháp này giúp người nộp thuế tránh được việc bị phong tỏa tài khoản hoặc các chế tài cưỡng chế khác, bảo đảm duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường.

Rủi ro pháp lý khi khoản thuế nợ chạm mốc quá 90 ngày

Căn cứ khoản 1 Điều 48 Luật 108/2025/QH15, mốc 90 ngày được tính liên tục kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật. Khi vượt qua thời hạn này, người nộp thuế đương nhiên rơi vào diện bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế.

Theo khoản 9 Điều 48 Luật 108/2025/QH15, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế căn cứ tình hình thực tế để quyết định trường hợp thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế. Điều này đồng nghĩa với việc các biện pháp cưỡng chế có thể được kích hoạt ngay khi đủ điều kiện, tạo ra rủi ro gián đoạn hoạt động kinh doanh rất lớn nếu tổ chức và cá nhân không chủ động xử lý nghĩa vụ trước thời điểm này.

Điều kiện để được xem xét nộp dần trong 12 tháng

Căn cứ khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15, người nộp thuế muốn được tạm hoãn áp dụng biện pháp cưỡng chế để phân kỳ thanh toán nghĩa vụ phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện chặt chẽ sau đây:

  • Về chủ thể quyết định: Việc nộp dần tiền thuế nợ được thủ trưởng cơ quan quản lý thuế xem xét trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế (theo khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15). Cơ quan quản lý thuế ở đây bao gồm cơ quan thuế và cơ quan hải quan tùy theo loại nghĩa vụ phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật 108/2025/QH15.
  • Về biện pháp bảo đảm: Bắt buộc phải có bảo lãnh của tổ chức tín dụng theo quy định tại khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15. Đây là điều kiện tiên quyết mang tính ràng buộc pháp lý để cơ quan có thẩm quyền chấp thuận phương án nộp dần.
  • Về thời hạn phân kỳ: Khoản nợ thuế được nộp dần trong thời hạn không quá 12 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản chấp nhận nộp dần tiền thuế nợ và trong thời gian thư bảo lãnh có hiệu lực theo khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15.

Checklist các bước xin nộp dần tiền thuế nợ quá hạn

Để hoàn thiện hồ sơ đề nghị phân kỳ nghĩa vụ nợ thuế và kịp thời ngăn chặn quyết định cưỡng chế, người nộp thuế cần triển khai ngay quy trình gồm 4 bước cụ thể sau:

Bước 1: Rà soát số tiền thuế nợ và đối chiếu thời hạn nộp

Người nộp thuế tiến hành tổng hợp toàn bộ các khoản thu thuộc ngân sách nhà nước đang còn tồn đọng (theo Điều 1 Luật 108/2025/QH15). Cần phân loại rõ khoản nợ đã phát sinh bao nhiêu ngày, xác định chính xác thời điểm chạm ngưỡng 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật 108/2025/QH15 để chủ động lập kế hoạch làm việc với cơ quan quản lý thuế.

Bước 2: Làm việc với tổ chức tín dụng để phát hành thư bảo lãnh

Căn cứ khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15, người nộp thuế phải làm việc với tổ chức tín dụng để thẩm định và phát hành thư bảo lãnh cho toàn bộ số tiền thuế nợ đề nghị nộp dần. Cần bảo đảm rằng thời hạn ghi trên thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng phải bao quát toàn bộ lộ trình xin phân kỳ thanh toán, không vượt quá 12 tháng.

Bước 3: Lập văn bản đề nghị nộp dần tiền thuế nợ gửi thủ trưởng cơ quan quản lý thuế

Căn cứ khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15, người nộp thuế gửi văn bản đề nghị nộp dần tiền thuế nợ tới thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có thẩm quyền (cơ quan thuế hoặc cơ quan hải quan theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật 108/2025/QH15). Kèm theo văn bản đề nghị là thư bảo lãnh hợp pháp do tổ chức tín dụng phát hành.

Bước 4: Nhận văn bản chấp thuận và thực hiện nghĩa vụ theo đúng lộ trình

Sau khi thủ trưởng cơ quan quản lý thuế xem xét hồ sơ và ban hành văn bản chấp nhận nộp dần tiền thuế nợ, người nộp thuế chính thức bước vào diện chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế theo quy định tại khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15. Người nộp thuế phải tuân thủ nghiêm ngặt từng kỳ nộp theo tiến độ đã cam kết trong thời hạn không quá 12 tháng kể từ ngày văn bản chấp thuận được ban hành.

Bảng so sánh các trường hợp xử lý cưỡng chế theo Điều 48

Nhằm giúp người nộp thuế phân biệt rõ các tình huống bị cưỡng chế, tình huống được tạm hoãn và các trường hợp không áp dụng cưỡng chế, bảng tổng hợp dưới đây đối chiếu chi tiết theo quy định tại Điều 48 Luật 108/2025/QH15:

Nhóm xử lýTrường hợp áp dụngCăn cứ pháp lý
Bị cưỡng chế- Tiền thuế nợ quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp theo quy định.
- Tiền thuế nợ khi hết thời hạn gia hạn nộp tiền thuế.
- Có tiền thuế nợ nhưng không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký hoặc có hành vi phát tán tài sản.
- Không chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thời hạn (trừ trường hợp hoãn/tạm đình chỉ).
- Đã bị xử phạt do không chấp hành quyết định kiểm tra thuế nhưng tiếp tục không chấp hành.
Khoản 1, 2, 3, 4, 5 Điều 48 Luật 108/2025/QH15
Chưa thực hiện cưỡng chế- Khoản nợ được cơ quan quản lý thuế không tính tiền chậm nộp theo quy định.
- Được nộp dần tiền thuế nợ trong thời hạn không quá 12 tháng kể từ ngày có văn bản chấp thuận và thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng còn hiệu lực.
Khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15
Không thực hiện cưỡng chế- Người nộp thuế có nợ phí hải quan và lệ phí hàng hóa, phương tiện vận tải quá cảnh.
- Số tiền thuế nợ được bù trừ qua hoàn thuế mà cơ quan thuế đang làm thủ tục bù trừ.
Khoản 7, 8 Điều 48 Luật 108/2025/QH15

Tình huống minh họa về áp dụng nộp dần nợ thuế

Một doanh nghiệp phát sinh khoản nợ tiền thuế thuộc diện quản lý của cơ quan thuế theo khoản 2 Điều 2 Luật 108/2025/QH15. Do dòng tiền gặp khó khăn, khoản tiền thuế này đã quá hạn 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp theo quy định. Theo khoản 1 Điều 48 Luật 108/2025/QH15, doanh nghiệp đã chính thức rơi vào diện bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế.

Để bảo đảm duy trì hoạt động, người đại diện doanh nghiệp đã nộp hồ sơ xin nộp dần khoản tiền thuế nợ này, kèm theo thư bảo lãnh do một tổ chức tín dụng phát hành. Căn cứ khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15, thủ trưởng cơ quan thuế đã xem xét hồ sơ đề nghị và ban hành văn bản chấp nhận nộp dần tiền thuế nợ trong thời hạn 12 tháng.

Kể từ ngày văn bản chấp thuận được ban hành, cơ quan thuế chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế đối với khoản nợ của doanh nghiệp. Trong suốt thời gian thư bảo lãnh có hiệu lực và trong giới hạn 12 tháng theo văn bản chấp thuận, doanh nghiệp thực hiện nộp dần từng phần khoản nợ thuế vào ngân sách nhà nước theo đúng lộ trình đã được phê duyệt.

Ai bị ảnh hưởng và việc cần làm ngay

Căn cứ theo quy định tại Điều 2 và Điều 48 Luật 108/2025/QH15, nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng và các biện pháp ứng phó cần thực hiện bao gồm:

  • Tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân và cá nhân kinh doanh: Những chủ thể là người nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế (điểm a khoản 1 Điều 2 Luật 108/2025/QH15) đang có nghĩa vụ thuế quá hạn cần chủ động kiểm tra thời hạn nợ để tránh vượt mốc 90 ngày.
  • Tổ chức, cá nhân nước ngoài: Kinh doanh tại Việt Nam, có thu nhập tại Việt Nam hoặc kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác thuộc diện người nộp thuế (điểm b, c khoản 1 Điều 2 Luật 108/2025/QH15) nếu để phát sinh nợ quá hạn cũng thuộc diện bị cưỡng chế theo khoản 1 Điều 48 Luật 108/2025/QH15.
  • Tổ chức, cá nhân thực hiện khấu trừ, nộp thay: Theo điểm đ khoản 1 Điều 2 Luật 108/2025/QH15, các đơn vị này phải rà soát các khoản tiền thuế khấu trừ đã đến hạn nộp để tránh việc bị áp dụng biện pháp cưỡng chế khi quá hạn 90 ngày.
  • Hành động cần làm ngay: Người nộp thuế khi nhận thấy không có khả năng thanh toán một lần khoản nợ thuế phải khẩn trương tiếp cận tổ chức tín dụng để đề nghị cấp bảo lãnh và nộp văn bản đề nghị tới thủ trưởng cơ quan quản lý thuế theo khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15.

Câu hỏi thường gặp

Khoản nợ thuế bị cưỡng chế sau bao nhiêu ngày quá hạn?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Luật 108/2025/QH15, người nộp thuế có tiền thuế nợ quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp theo quy định sẽ bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế.

Thời gian nộp dần tiền thuế nợ tối đa là bao lâu?

Căn cứ khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15, thời hạn nộp dần tiền thuế nợ là không quá 12 tháng kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản chấp nhận nộp dần tiền thuế nợ và trong thời gian thư bảo lãnh có hiệu lực.

Thủ tục xin nộp dần bắt buộc phải có điều kiện gì về bảo lãnh?

Theo khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15, việc nộp dần tiền thuế nợ được thủ trưởng cơ quan quản lý thuế xem xét trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế và bắt buộc phải có bảo lãnh của tổ chức tín dụng.

Trường hợp nào cơ quan quản lý thuế chưa hoặc không thực hiện cưỡng chế?

Theo khoản 6, 7 và 8 Điều 48 Luật 108/2025/QH15, chưa cưỡng chế với khoản nợ không tính tiền chậm nộp hoặc đang trong thời hạn được chấp thuận nộp dần có bảo lãnh; không cưỡng chế với nợ phí hải quan, lệ phí hàng hóa/phương tiện quá cảnh, hoặc khoản nợ thuế đang làm thủ tục bù trừ qua hoàn thuế.

Khuyến nghị cho doanh nghiệp khi xử lý nợ thuế quá hạn

Quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 48 Luật 108/2025/QH15 đã thiết lập hành lang pháp lý rõ ràng: khoản nợ thuế quá 90 ngày sẽ đối mặt với biện pháp cưỡng chế, nhưng quyền xin nộp dần trong 12 tháng là giải pháp hợp pháp giúp doanh nghiệp cơ cấu lại dòng tiền khi có bảo lãnh của tổ chức tín dụng.

Để bảo đảm an toàn pháp lý, người nộp thuế cần chủ động đối chiếu văn bản gốc Luật 108/2025/QH15 cùng các quy định chi tiết của Chính phủ được ban hành theo khoản 10 Điều 48 Luật 108/2025/QH15. Trong các tình huống phức tạp liên quan đến thẩm quyền xem xét của cơ quan thuế hoặc cơ quan hải quan (khoản 2 Điều 2), người nộp thuế nên tham vấn ý kiến chuyên gia tư vấn pháp lý để hoàn thiện hồ sơ đề nghị nộp dần đúng trình tự, tránh rủi ro bị cưỡng chế ngoài ý muốn.

Ảnh minh họa AI: chuyển khoản, góc không gian và đời sống
Góc Luật · Ảnh minh họa AI

Nguồn để đối chiếu

Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.

Mở nguồn chính thức

Bài viết liên quan

Xem thêm