Xử lý trách nhiệm hoàn trả của công vụ viên khi bãi bỏ Thông tư 04/2014
Theo Thông tư liên tịch 15/2018/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC, Thông tư liên tịch 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC đã bị bãi bỏ nhưng vụ việc thụ lý theo Luật số 35/2009/QH12 vẫn áp dụng văn bản này.
Mục lục nội dungThu gọn
Vấn đề xử lý trách nhiệm hoàn trả của công vụ viên khi bãi bỏ Thông tư 04/2014 được xác định cụ thể theo Thông tư liên tịch 15/2018/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC. Văn bản này bãi bỏ văn bản hướng dẫn ban hành năm 2014 nhưng đặt ra điều khoản chuyển tiếp áp dụng đối với các hồ sơ bồi thường đã thụ lý từ trước.
Bãi bỏ toàn bộ Thông tư liên tịch 04/2014 từ ngày 12/01/2019
Theo Điều 1, cơ quan ban hành quyết định bãi bỏ toàn bộ Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23 tháng 01 năm 2014 giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.
Theo khoản 1 Điều 3, thời điểm có hiệu lực thi hành được ấn định kể từ ngày 12 tháng 01 năm 2019. Đến thời điểm hiện tại, văn bản bãi bỏ này đã đi vào thực tế và đang được thực hiện thống nhất trong hoạt động xem xét trách nhiệm.
Xử lý trách nhiệm hoàn trả của công vụ viên trong giai đoạn chuyển tiếp
Theo Điều 2, các trường hợp yêu cầu bồi thường đã được cơ quan giải quyết bồi thường thụ lý, giải quyết theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12 thì trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại làm phát sinh yêu cầu bồi thường đó được thực hiện theo quy định của Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 23 tháng 01 năm 2014 giữa Bộ trưởng Bộ Tư pháp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ.
Quy định chuyển tiếp nêu trên tạo ra ranh giới pháp lý rõ ràng: việc văn bản năm 2014 bị bãi bỏ không đồng nghĩa với việc chấm dứt áp dụng đối với tất cả các vụ việc, mà vẫn có giá trị thi hành đối với những hồ sơ đã thụ lý, giải quyết căn cứ vào Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12.
Bảng so sánh căn cứ áp dụng trách nhiệm hoàn trả
| Tiêu chí | Quy định bãi bỏ | Quy định chuyển tiếp |
|---|---|---|
| Văn bản điều chỉnh | Theo Điều 1: Bãi bỏ Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC | Theo Điều 2: Tiếp tục áp dụng Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC |
| Phạm vi áp dụng | Theo Điều 1: Toàn bộ văn bản hướng dẫn năm 2014 chấm dứt hiệu lực chung | Theo Điều 2: Chỉ áp dụng đối với trường hợp thụ lý theo Luật số 35/2009/QH12 |
| Thời điểm xác định | Theo khoản 1 Điều 3: Có hiệu lực thi hành kể từ ngày 12 tháng 01 năm 2019 | Theo Điều 2: Gắn liền với thời điểm thụ lý, giải quyết yêu cầu bồi thường |
Tình huống minh họa về áp dụng văn bản
Một vụ việc phát sinh yêu cầu bồi thường đã được cơ quan giải quyết bồi thường thụ lý và giải quyết căn cứ theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12. Dù thời điểm xem xét nghĩa vụ hoàn trả diễn ra sau ngày 12 tháng 01 năm 2019, theo Điều 2, cơ quan giải quyết bồi thường vẫn phải áp dụng Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC để thực hiện trách nhiệm hoàn trả đối với người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại.
Đối tượng chịu tác động và trách nhiệm thi hành
- Người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại làm phát sinh yêu cầu bồi thường: Phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả theo Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC nếu vụ việc gốc được thụ lý, giải quyết theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước số 35/2009/QH12 theo quy định tại Điều 2.
- Cơ quan giải quyết bồi thường: Cần đối chiếu thời điểm và căn cứ thụ lý yêu cầu bồi thường để áp dụng đúng văn bản theo Điều 2.
- Theo khoản 2 Điều 3: Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành.
Câu hỏi thường gặp
Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC bị bãi bỏ từ khi nào?
Theo Điều 1 và khoản 1 Điều 3, văn bản này bị bãi bỏ toàn bộ kể từ ngày 12 tháng 01 năm 2019.
Vụ việc thụ lý theo Luật số 35/2009/QH12 xử lý hoàn trả thế nào?
Theo Điều 2, trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ trong trường hợp này vẫn được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC.
Những cơ quan nào có trách nhiệm thi hành việc bãi bỏ này?
Theo khoản 2 Điều 3, Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành.
Kết luận và các bước kiểm tra tiếp theo
Việc nắm rõ quy định chuyển tiếp giúp đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên liên quan, tránh áp dụng sai văn bản pháp luật đã bị bãi bỏ. Đơn vị giải quyết bồi thường và cá nhân liên quan cần kiểm tra tính chất thụ lý của hồ sơ, đối chiếu văn bản gốc và tham khảo tư vấn pháp lý chuyên môn khi xử lý hồ sơ thực tế.
Nguồn để đối chiếu
Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.
Mở nguồn chính thức