Đến nội dung chính
Góc LuậtThông tin có nguồn · Biên tập có trách nhiệm
Tra cứu văn bản Văn bản đã lưu (0) Thông báoĐăng nhậpĐăng ký

Từ 6/11/2026: VAMC được yêu cầu mở thủ tục phá sản bên vay mất khả năng trả nợ

Theo Nghị định 359/2026/NĐ-CP, từ ngày 6/11/2026, VAMC có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án tiến hành thủ tục phá sản với bên vay và bên bảo đảm không có khả năng trả nợ.

Mục lục nội dungThu gọn

Từ ngày mai, 06/11/2026, Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam chính thức được nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản đối với các khách hàng vay mất khả năng thanh toán. Quy định pháp lý này tác động trực tiếp đến tình trạng pháp lý, tài sản và nghĩa vụ của các doanh nghiệp vay vốn, bên bảo đảm và các tổ chức liên quan.

Thẩm quyền mở thủ tục phá sản và các bên chịu tác động trực tiếp

Quyền hạn can thiệp pháp lý đối với các khoản nợ xấu khó đòi được xác định cụ thể theo khoản 8 Điều 18: Công ty Quản lý tài sản được quyền "Nộp đơn yêu cầu Tòa án tiến hành các thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản đối với khách hàng vay không có khả năng trả nợ và đối với bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm".

Căn cứ theo Điều 2, nhóm đối tượng chịu sự điều chỉnh của quy định bao gồm:

  • Công ty Quản lý tài sản (theo khoản 1 Điều 2).
  • Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (theo khoản 2 Điều 2).
  • Các tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản (theo khoản 3 Điều 2).

Quy định nhắm thẳng vào bên vay nợ, bên có nghĩa vụ trả nợ và bên bảo đảm khi xuất hiện tình trạng mất khả năng thanh toán hoặc không thể thực hiện nghĩa vụ tài chính đã cam kết.

Các biện pháp xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm của Công ty Quản lý tài sản

Biện pháp nộp đơn ra Tòa án là một trong nhiều công cụ thu hồi nợ được pháp luật ghi nhận. Toàn bộ các giải pháp xử lý nợ và tài sản được quy định cụ thể tại Điều 18:

STTBiện pháp xử lý nợ xấuCăn cứ quy định
1Thực hiện các quyền của chủ nợ, bên nhận bảo đảm đối với khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm nhằm thu hồi nợ, tài sản bảo đảm.Khoản 1 Điều 18
2Tổ chức đôn đốc, yêu cầu trả nợ, thu nợ từ khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ và bên bảo đảm.Khoản 2 Điều 18
3Thực hiện cơ cấu lại khoản nợ xấu, hỗ trợ khách hàng vay theo quy định tại Điều 19.Khoản 3 Điều 18
4Thỏa thuận với khách hàng vay về việc chuyển nợ thành vốn góp, vốn cổ phần để tham gia cơ cấu lại tài chính và hoạt động của khách hàng vay.Khoản 4 Điều 18
5Thu nợ bằng nhận chính tài sản bảo đảm của khoản nợ; thu hồi, thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật.Khoản 5 Điều 18
6Bán nợ cho các tổ chức, cá nhân. Việc bán nợ cho người không cư trú thực hiện theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.Khoản 6 Điều 18
7Khởi kiện hoặc ủy quyền, chuyển giao quyền cho tổ chức tín dụng Việt Nam bán nợ khởi kiện ra Tòa án và thực hiện quyền, trách nhiệm trong thi hành án.Khoản 7 Điều 18
8Nộp đơn yêu cầu Tòa án tiến hành các thủ tục phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản.Khoản 8 Điều 18

Việc doanh nghiệp vay vốn và các bên liên quan cần thực hiện ngay

Để ứng phó kịp thời với các rủi ro pháp lý phát sinh từ ngày mai, khách hàng vay và các bên bảo đảm cần:

  1. Kiểm tra tính pháp lý và hiệu lực của các hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm đang phát sinh nghĩa vụ tài chính.
  2. Đối chiếu văn bản gốc các quy định tại Nghị định để nắm rõ quyền và trách nhiệm của từng chủ thể khi phát sinh nợ xấu.
  3. Chủ động tham khảo ý kiến tư vấn pháp lý chuyên sâu nhằm có phương án xử lý công nợ, đàm phán cơ cấu lại nợ hoặc chuyển nợ thành vốn góp theo đúng thẩm quyền cho phép.
Ảnh minh họa AI: đánh giá phục vụ, góc bối cảnh thực tế
Góc Luật · Ảnh minh họa AI

Nguồn để đối chiếu

Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.

Mở nguồn chính thức

Bài viết liên quan

Xem thêm