Ba tiêu chuẩn, chín tiêu chí: cách chấm điểm ứng viên giáo sư, phó giáo sư theo dự thảo
Phụ lục I chia đánh giá năng lực thành 3 tiêu chuẩn và 9 tiêu chí với trọng số tối thiểu 30%, 30%, 20%; cơ sở được tự chọn 20% còn lại và phải công bố trước khi nhận hồ sơ.
Mục lục nội dungThu gọn
Hai ứng viên cùng đủ 12 bài báo, cùng hướng dẫn một tiến sĩ: ai sẽ được chọn? Theo dự thảo Thông tư bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư, câu trả lời nằm ở điểm đánh giá năng lực, chấm theo 3 tiêu chuẩn và 9 tiêu chí tại Phụ lục I. Đây là thay đổi lớn: thay vì chỉ kiểm tra đạt chuẩn, Hội đồng chấm điểm, xếp hạng và chọn người phù hợp nhất cho vị trí. Bài viết giải thích cơ cấu trọng số, nội dung từng tiêu chí, minh chứng chính và những quy tắc chống “chấm cho vừa ý”.
Hai lớp: đạt chuẩn rồi mới chấm điểm
Điều 12 tách bạch: yêu cầu tối thiểu (tiêu chuẩn chung, thành tích tối thiểu ở Phụ lục I, yêu cầu riêng của vị trí, điểm sàn của từng tiêu chuẩn) chỉ kết luận đáp ứng hoặc không; năng lực mới được chấm điểm. Không được dùng điểm năng lực để bù cho yêu cầu tối thiểu còn thiếu, và Điều 5 cấm quy đổi việc đáp ứng yêu cầu tối thiểu thành điểm.
Cơ cấu 3 tiêu chuẩn, 9 tiêu chí
Tiêu chuẩn 1 – Năng lực giảng dạy và kết quả đào tạo (trọng số tối thiểu 30%):
- 1.1 Năng lực và kết quả giảng dạy: tỷ trọng ≥ 30%.
- 1.2 Hướng dẫn và phát triển người học: ≥ 30%.
- 1.3 Phát triển chương trình đào tạo và học liệu: ≥ 20%.
Tiêu chuẩn 2 – Năng lực nghiên cứu, sáng tạo tri thức và uy tín khoa học (≥ 30%):
- 2.1 Chất lượng công trình và đóng góp mới về tri thức: ≥ 40%.
- 2.2 Chuyên môn sâu và dẫn dắt hướng chuyên môn: ≥ 20%.
- 2.3 Uy tín khoa học và ảnh hưởng chuyên môn: ≥ 20%.
Tiêu chuẩn 3 – Năng lực phát triển tập thể và phục vụ cộng đồng (≥ 20%):
- 3.1 Tổ chức hoạt động chuyên môn và phát triển nguồn lực: ≥ 30%.
- 3.2 Phát triển đội ngũ kế cận: ≥ 30%.
- 3.3 Phục vụ cộng đồng học thuật, nghề nghiệp và xã hội: ≥ 20%.
Trọng số tính trong tổng điểm; tỷ trọng tính trong từng tiêu chuẩn. Tổng trọng số ba tiêu chuẩn và tổng tỷ trọng các tiêu chí trong mỗi tiêu chuẩn đều bằng 100%. Cộng các mức tối thiểu của ba tiêu chuẩn được 80%, nên trường có 20% để tự phân bổ theo định hướng: trường thiên về nghiên cứu có thể đặt Tiêu chuẩn 2 là 50%, trường ứng dụng có thể tăng Tiêu chuẩn 1 hoặc 3. Tương tự trong từng tiêu chuẩn, phần dư 20% (Tiêu chuẩn 1 và 3) hoặc 20% (Tiêu chuẩn 2) do trường chọn.
Hội đồng chấm gì ở mỗi tiêu chí?
- 1.1: chiều sâu, tính chính xác và cập nhật của nội dung giảng dạy; gắn kết nghiên cứu với giảng dạy; phương pháp, đánh giá người học và kết quả cải thiện. Minh chứng: hồ sơ giảng dạy, đề cương, học liệu, kết quả học tập, phản hồi người học. Có đánh giá trực tiếp năng lực giảng dạy.
- 1.2: chất lượng hướng dẫn và sự phát triển năng lực độc lập của người học; với giáo sư là năng lực sáng tạo tri thức mới của nghiên cứu sinh.
- 1.3: vai trò, chất lượng, mức độ sử dụng và hiệu quả của chương trình, học liệu được xây dựng hoặc cải tiến.
- 2.1: tính mới, độ tin cậy, giá trị khoa học hoặc nghề nghiệp; dựa trên năm công trình tiêu biểu và thuyết minh.
- 2.2: chiều sâu chuyên môn, năng lực đặt vấn đề, chọn phương pháp và quá trình phát triển một hướng chuyên môn.
- 2.3: mức độ ghi nhận độc lập, việc sử dụng, phát triển kết quả nghiên cứu; trích dẫn có ý nghĩa, không chỉ số lượng trích dẫn.
- 3.1: tổ chức hoạt động chuyên môn, huy động nguồn lực, phát triển năng lực tập thể.
- 3.2: bồi dưỡng đồng nghiệp và sự trưởng thành, khả năng tự đảm nhiệm của người được hỗ trợ.
- 3.3: chất lượng và hiệu quả của đóng góp cho cộng đồng học thuật, nghề nghiệp, xã hội.
Hình thức đánh giá
Gồm đánh giá hồ sơ, nhận xét phản biện độc lập, thuyết trình và trao đổi chuyên môn trực tiếp với Hội đồng, và đánh giá trực tiếp năng lực giảng dạy theo hình thức trường công bố trước (thuyết giảng, hồ sơ hoặc hình thức khác). Ngoại ngữ được đánh giá trực tiếp qua trình bày, trao đổi, chỉ ghi đạt hoặc không đạt, không chấm điểm. Kết quả các hình thức được dùng đồng bộ, không tạo nhóm điểm riêng hay chấm lặp.
Quy tắc chống “chấm cho vừa ý”
- Trường công bố trọng số, tỷ trọng, thang điểm, mức điểm tối thiểu và phương pháp xếp hạng trước khi nhận hồ sơ; không thay đổi trong đợt.
- Thành viên chấm độc lập, ghi minh chứng và căn cứ cho từng điểm, ký phiếu.
- Điểm chênh bất thường giữa các thành viên: Chủ tịch yêu cầu giải trình; điều chỉnh phải có căn cứ, lập biên bản; cấm điều chỉnh vụ lợi.
- Cấm biểu quyết để thay đổi điểm, miễn giảm yêu cầu tối thiểu hoặc làm sai lệch thứ hạng.
- Ứng viên chỉ được xếp hạng khi ít nhất 2/3 thành viên có quyền đánh giá kết luận đáp ứng tiêu chuẩn năng lực.
Từ điểm số đến quyết định
Ứng viên đủ điều kiện được xếp từ điểm cao xuống thấp; bằng điểm thì đồng hạng. Nếu có người vượt trội rõ ràng, người đứng đầu chọn người đó. Nếu có nhóm năng lực tương đương (xác định theo ngưỡng chênh lệch điểm đã công bố trước), người đứng đầu chọn một người và giải trình dựa trên yêu cầu vị trí, kế hoạch công tác, ưu tiên theo luật và khuyến nghị của Hội đồng. Nếu chưa xác định được, ưu tiên người xếp đầu. Người đứng đầu không được chọn người ngoài danh sách đề xuất.
Lời kết
Ba tiêu chuẩn, chín tiêu chí biến việc xét chức danh thành một cuộc tuyển chọn có điểm số, minh chứng và giải trình. Ứng viên nên đọc kỹ quy định đánh giá mà trường công bố, chuẩn bị minh chứng cho cả 9 tiêu chí chứ không chỉ công bố khoa học. Nếu bạn thấy các mức trọng số tối thiểu chưa phù hợp với đặc thù ngành, hãy gửi góp ý trước ngày 16/11/2026.
Nguồn để đối chiếu
Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.
Mở nguồn chính thức