Khi nào Tòa án phải trưng cầu giám định lại vụ việc dân sự?
Theo Thông tư liên tịch 02/2026/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định lại khi kết luận lần đầu vi phạm pháp luật, có nghi ngờ về tính chính xác hoặc theo quyết định của người có thẩm quyền.
Mục lục nội dungThu gọn
Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định lại khi kết luận giám định lần đầu vi phạm pháp luật, khi có nghi ngờ về tính chính xác của kết luận giám định lần đầu, hoặc theo quyết định của cấp có thẩm quyền tố tụng. Quy định này bảo đảm chứng cứ chuyên môn phản ánh đúng sự thật khách quan, ngăn chặn sai lệch trong đánh giá chứng cứ giải quyết vụ việc dân sự.
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân, hoạt động trưng cầu giám định lại giữ vai trò đặc biệt then chốt nhằm khắc phục triệt để các sai sót kỹ thuật, chuyên môn, pháp lý mà kết luận trước đó mắc phải. Để đương sự, luật sư và người tham gia tố tụng nắm rõ ranh giới pháp lý, việc phân định trường hợp nào phải giám định lại, trường hợp nào áp dụng giám định bổ sung là yêu cầu cấp thiết.
Căn cứ pháp lý buộc Tòa án thực hiện trưng cầu giám định lại
Theo Phụ lục I, Cột 19, kết luận giám định phải giám định lại do kết luận giám định lần đầu vi phạm pháp luật. Đây là căn cứ tuyệt đối nhằm loại bỏ những kết luận thu thập sai trình tự, đối tượng hoặc người thực hiện không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật về giám định tư pháp.
Theo Phụ lục I, Cột 20, Tòa án thực hiện giám định lại do có nghi ngờ về tính chính xác của kết luận giám định lần đầu. Sự nghi ngờ này dựa trên các cơ sở khách quan khi số liệu chuyên môn mâu thuẫn nội tại hoặc không tương thích với tài liệu chứng cứ khác của vụ việc.
Theo Phụ lục I, Cột 21, việc thực hiện giám định lại được tiến hành theo quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Đây là trường hợp chỉ đạo nghiệp vụ hoặc xem xét lại tính chuẩn xác của hồ sơ chuyên môn thuộc cấp xét xử cao nhất.
Theo Cột 26, hoạt động giám định lại được kích hoạt trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Thẩm quyền này áp dụng đối với những vụ việc có tính chất đặc biệt phức tạp, mâu thuẫn sâu sắc giữa các bên hoặc liên quan trực tiếp đến công tác kiểm sát tư pháp.
Phân biệt ranh giới giữa giám định bổ sung và giám định lại
Đương sự và người tham gia tố tụng thường nhầm lẫn giữa hai biện pháp giám định bổ sung và giám định lại. Theo hướng dẫn thống kê tư pháp, Tòa án phân chia cụ thể hai nhóm xử lý này nhằm đảm bảo tính chính xác và tránh kéo dài thời gian xét xử.
Theo Phụ lục I, Cột 17, Tòa án phải ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung do nội dung kết luận giám định lần đầu chưa rõ, chưa đầy đủ. Giám định bổ sung giải quyết các câu hỏi chuyên môn còn bỏ ngỏ mà đợt giám định đầu chưa trả lời trọn vẹn.
Theo Phụ lục I, Cột 18, Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung do phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ việc. Tình tiết mới xuất hiện sau khi đã có kết luận ban đầu đòi hỏi cơ quan chuyên môn làm rõ thêm mà không phủ định tính hợp pháp của kết luận trước.
Ngược lại, theo Phụ lục I, Cột 19 và Cột 20, việc trưng cầu lại hoàn toàn bác bỏ hoặc tạm đình chỉ việc sử dụng kết luận lần đầu do vi phạm pháp luật hoặc nghi ngờ tính chuẩn xác của toàn bộ dữ liệu giám định.
| Tiêu chí so sánh | Trưng cầu giám định bổ sung | Trưng cầu giám định lại | Giám định lại trong trường hợp đặc biệt |
|---|---|---|---|
| Căn cứ pháp lý phát sinh | Kết luận lần đầu chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết vụ việc | Kết luận lần đầu vi phạm pháp luật hoặc có nghi ngờ về tính chính xác | Trường hợp đặc biệt có quyết định của lãnh đạo liên ngành tư pháp tối cao |
| Vị trí quy định | Theo Phụ lục I, Cột 17 và Cột 18 | Theo Phụ lục I, Cột 19 và Cột 20 | Theo Cột 26 |
| Chủ thể ra quyết định | Thẩm phán giải quyết vụ việc dân sự, hành chính | Thẩm phán hoặc theo quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao | Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao |
| Số phận của kết luận lần đầu | Tiếp tục sử dụng kết hợp với kết luận bổ sung | Bị xem xét lại, có thể bị loại trừ hoặc không được sử dụng | Được đánh giá lại toàn diện bởi Hội đồng giám định cấp cao hơn |
Thẩm quyền quyết định trưng cầu giám định lại trong các trường hợp đặc biệt
Thẩm quyền ra quyết định không chỉ giới hạn ở Hội đồng xét xử hoặc Thẩm phán giải quyết vụ án. Pháp luật phân cấp quyền can thiệp đối với các vụ việc mang tính chất nghiêm trọng, phức tạp hoặc có kháng nghị.
Theo Phụ lục I, Cột 21, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền trực tiếp quyết định việc thực hiện giám định lại. Trường hợp này thường xảy ra khi giải quyết thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc khi xem xét kháng nghị đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện sai phạm chuyên môn nghiêm trọng.
Theo Cột 26, thẩm quyền được phân bổ phối hợp giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong các trường hợp đặc biệt. Sự phối hợp này đảm bảo việc kiểm soát chéo giữa cơ quan xét xử và cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp đối với các vụ việc quy mô lớn hoặc kết quả các lần giám định trước mâu thuẫn đối kháng hoàn toàn.
Đánh giá, xử lý kết quả giám định và số phận pháp lý của kết luận ban đầu
Sau khi có kết quả trưng cầu, Tòa án phân loại và ghi nhận tính hiệu lực của từng văn bản chuyên môn trong quá trình giải quyết vụ án.
Theo Phụ lục I, Cột 16 và Cột 21, kết luận giám định hợp pháp, khách quan sẽ được thống kê là số lượng kết luận giám định được sử dụng để giải quyết vụ việc. Đây là căn cứ chứng cứ trực tiếp định hình phán quyết của Tòa án.
Theo Phụ lục I, Cột 22 và Cột 27, các kết luận giám định không bảo đảm tính pháp lý, bị giám định lại và chứng minh là sai lệch sẽ thuộc diện kết luận giám định bị loại trừ hoặc không được sử dụng. Khi đã bị loại trừ, toàn bộ nội dung của kết luận lần đầu không được dùng làm chứng cứ để tuyên án.
Bên cạnh chất lượng kết luận, tiến độ giải quyết vụ việc chịu tác động lớn bởi yếu tố thời gian. Theo Phụ lục I, Cột 23 và Cột 24 (cũng như Cột 28 và Cột 29), Tòa án phải theo dõi kết luận giám định trong thời hạn luật định hoặc đã quá thời hạn luật định. Việc chậm trễ trả lời kết luận là nguyên nhân dẫn đến đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án dân sự.
Các lĩnh vực chuyên môn thường phát sinh yêu cầu trưng cầu giám định lại
Thực tiễn tố tụng dân sự cho thấy nhu cầu xác định lại số liệu kỹ thuật xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực quản lý nhà nước và hoạt động đời sống. Tòa án thực hiện phân loại chi tiết theo từng ngành chuyên sâu.
Theo Phụ lục I, Cột 25 đến Cột 34 và Cột 30 đến Cột 39, các lĩnh vực tiếp nhận và xử lý kết quả giám định bao gồm:
- Lĩnh vực Kỹ thuật hình sự (theo Phụ lục I, Cột 25 và Cột 30): Xác định chữ ký, con dấu, tài liệu giả mạo trong hợp đồng kinh tế, di chúc thừa kế.
- Lĩnh vực Pháp y và Pháp y tâm thần (theo Phụ lục I, Cột 26, 27 và Cột 31, 32): Xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể, năng lực hành vi dân sự của đương sự.
- Lĩnh vực Văn hóa (theo Phụ lục I, Cột 28 và Cột 33): Giám định quyền tác giả, tác phẩm nghệ thuật, cổ vật tranh chấp.
- Lĩnh vực Tài chính và Ngân hàng (theo Phụ lục I, Cột 29, 30 và Cột 34, 35): Thẩm định thiệt hại tín dụng, sai phạm kế toán doanh nghiệp, giao dịch tiền tệ trái phép.
- Lĩnh vực Xây dựng (theo Phụ lục I, Cột 31 và Cột 36): Thẩm định chất lượng công trình nứt lún, chi phí xây dựng sai dự toán.
- Lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường (theo Phụ lục I, Cột 32 và Cột 37): Đánh giá ô nhiễm đất, nguồn nước, suy giảm năng suất cây trồng vật nuôi.
- Lĩnh vực Khoa học và công nghệ cùng Các lĩnh vực khác (theo Phụ lục I, Cột 33, 34 và Cột 38, 39): Chuyển giao công nghệ, sở hữu công nghiệp và tranh chấp kỹ thuật đặc thù.
Tình huống minh họa: Khiếu nại kết luận giám định trong tranh chấp xây dựng
Để hiểu rõ cơ chế vận hành, xem xét vụ án tranh chấp hợp đồng thi công giữa Doanh nghiệp A và Nhà thầu B về chất lượng khối bê tông móng công trình thương mại tại địa bàn thành phố.
Ban đầu, Tòa án trưng cầu tổ chức giám định xây dựng theo Phụ lục I, Cột 31. Kết quả giám định lần đầu xác định độ chịu lực bê tông đạt tiêu chuẩn. Tuy nhiên, Doanh nghiệp A phát hiện giám định viên sử dụng thiết bị đo đã hết hạn kiểm định đo lường, không thu thập mẫu theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng trình tự kỹ thuật và quy định pháp luật chuyên ngành.
Tòa án căn cứ Phụ lục I, Cột 19 xác định kết luận giám định lần đầu vi phạm pháp luật. Thẩm phán ban hành quyết định trưng cầu giám định lại, chỉ định tổ chức giám định độc lập khác thu thập mẫu mới. Kết luận giám định ban đầu bị Tòa án đưa vào danh mục kết luận giám định bị loại trừ hoặc không được sử dụng theo Phụ lục I, Cột 22. Vụ việc sau đó được giải quyết công bằng dựa trên kết quả giám định lần hai.
Người tham gia tố tụng cần làm gì khi phát hiện kết luận sai phạm?
Đương sự, doanh nghiệp và luật sư tham gia tố tụng cần chủ động áp dụng các bước quyền hạn luật định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình:
- Kiểm tra toàn diện hồ sơ năng lực của người giám định: Đối chiếu chứng chỉ hành nghề, quyết định phân công, tính độc lập khách quan và việc chấp hành quy chuẩn chuyên môn của giám định viên.
- Rà soát quy trình thu thập mẫu vật chứng cứ: Phát hiện các sai sót về bảo quản mẫu vật, niêm phong tài liệu hoặc vi phạm thời hạn luật định theo Phụ lục I, Cột 24 và Cột 29.
- Kịp thời gửi văn bản kiến nghị Tòa án: Nếu kết luận mâu thuẫn hoặc có sai lệch rõ ràng, gửi yêu cầu trưng cầu lại dựa trên căn cứ có nghi ngờ về tính chính xác theo Phụ lục I, Cột 20.
- Đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét: Đối với các vụ án đã xét xử nhưng kết luận giám định cốt lõi bị sai phạm, làm đơn đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét giám định lại theo Cột 21 hoặc Cột 26.
Câu hỏi thường gặp về trưng cầu giám định lại
Tòa án tự mình ra quyết định trưng cầu giám định lại hay phải có đơn của đương sự?
Tòa án có thể tự mình ra quyết định khi xét thấy cần thiết hoặc ra quyết định theo văn bản yêu cầu của đương sự khi có căn cứ chứng minh kết luận lần đầu vi phạm pháp luật hoặc có nghi ngờ chính đáng về tính chính xác (theo Phụ lục I, Cột 19, 20).
Kết luận giám định quá thời hạn luật định có mặc nhiên bị hủy bỏ không?
Thời hạn giám định quá hạn luật định theo Phụ lục I, Cột 24 và Cột 29 không tự động làm hủy bỏ kết quả giám định. Tuy nhiên, việc chậm trễ này là cơ sở để cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá lại tính toàn vẹn của chứng cứ hoặc chuyển đổi cơ quan giám định khác nếu có dấu hiệu kéo dài vụ án trái luật.
Khi nào kết luận giám định bị loại trừ hoàn toàn khỏi vụ án?
Theo Phụ lục I, Cột 22 và Cột 27, kết luận giám định bị loại trừ hoặc không được sử dụng khi cơ quan tiến hành tố tụng xác định kết luận đó vi phạm pháp luật, bị thay thế bằng kết luận giám định lại hợp pháp, hoặc nội dung giám định không có giá trị chứng minh sự thật khách quan.
Khuyến nghị cho đương sự và người tham gia tố tụng
Quy trình trưng cầu giám định lại là công cụ bảo đảm công lý, ngăn ngừa rủi ro sai sót chứng cứ chuyên môn trong các vụ việc dân sự phức tạp. Đương sự và các chủ thể tham gia tố tụng cần thường xuyên đối chiếu tiến độ với quy định thời hạn, kiểm tra tính pháp lý của tổ chức giám định và chủ động thu thập chứng cứ phản biện khi phát hiện dấu hiệu vi phạm chuyên môn.
Nguồn để đối chiếu
Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.
Mở nguồn chính thức