Số lượng giáo sư, phó giáo sư tối đa của nhóm ngành tính thế nào theo dự thảo Thông tư?
Giải thích công thức hạn mức (25% × G) + (T × G) + (k × B) trong Điều 7 dự thảo, ý nghĩa từng đại lượng, trần 25% giáo sư và hai ví dụ tính bằng số giả định.
Mục lục nội dungThu gọn
Một trường đại học được bổ nhiệm tối đa bao nhiêu giáo sư, phó giáo sư? Câu hỏi này trước đây gần như không có đáp án, vì số người đạt chuẩn phụ thuộc vào kết quả xét của Hội đồng Giáo sư nhà nước. Theo dự thảo Thông tư bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư, câu trả lời được tính bằng một công thức cụ thể tại Điều 7, cho từng nhóm ngành của từng trường. Bài này giải thích công thức, ý nghĩa từng đại lượng và những chỗ còn cần Bộ làm rõ.
Hạn mức áp dụng cho ai?
Hạn mức chỉ áp dụng khi bổ nhiệm theo vị trí cơ hữu, đồng cơ hữu và hợp đồng toàn thời gian sau nghỉ hưu. Việc bổ nhiệm chỉ được làm khi tổng số giáo sư, phó giáo sư của nhóm ngành sau khi bổ nhiệm không vượt số lượng tối đa. Vị trí thỉnh giảng không nằm trong phép tính này. Người đã giữ chức danh từ 3 năm trở lên được thu hút về theo Điều 13 cũng không phải đáp ứng điều kiện hạn mức, và trường có đề án trở thành cơ sở hàng đầu khu vực, thế giới được tự chủ số lượng thu hút người có chức danh từ nước ngoài.
Công thức đầy đủ
Số lượng tối đa = (25% × G) + (T × G) + (k × B). Dự thảo gọi ba thành phần lần lượt là mức cơ bản, mức tăng theo kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, và mức tăng theo kết quả đào tạo tiến sĩ.
- G – số giảng viên cơ hữu có bằng tiến sĩ của nhóm ngành, bình quân 3 năm gần nhất, gồm cả vị trí cơ hữu và đồng cơ hữu; đồng cơ hữu được tính theo hệ số quy đổi theo quy định pháp luật.
- T – tỷ trọng thu từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tổng kinh phí thu của trường, bình quân 3 năm. Khoản thu phải chuyển về và quản lý qua tài khoản chính thức, thể hiện trong báo cáo tài chính được phê duyệt, công khai theo quy định; không gồm thu từ dịch vụ, tư vấn. T tính riêng cho từng khối (STEM, Khoa học xã hội và Nhân văn, Nghệ thuật).
- B – số bằng tiến sĩ trường cấp cho nghiên cứu sinh của nhóm ngành, bình quân 3 năm.
- k – hệ số: 2/3 với khối ngành I (khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ, gồm cả Dược học), 1/3 với các khối ngành còn lại.
Nhóm ngành hoạt động chưa đủ 3 năm thì G, T, B tính theo thời gian thực tế. Kết quả có số thập phân được làm tròn lên số nguyên gần nhất.
Trần 25% cho giáo sư
Trong số lượng tối đa, số giáo sư của nhóm ngành không vượt quá 25% tổng số giáo sư và phó giáo sư của nhóm ngành. Số giáo sư, phó giáo sư dùng để so với hạn mức gồm vị trí cơ hữu, đồng cơ hữu (tính theo hệ số) và hợp đồng toàn thời gian sau nghỉ hưu.
Ví dụ 1: nhóm ngành khối III
Giả định nhóm ngành Pháp luật của một trường có G = 120 tiến sĩ cơ hữu, T = 5%, B = 12 tiến sĩ mỗi năm, k = 1/3.
- Mức cơ bản: 25% × 120 = 30.
- Mức tăng theo khoa học, công nghệ: 5% × 120 = 6.
- Mức tăng theo đào tạo tiến sĩ: 1/3 × 12 = 4.
- Hạn mức: 40 giáo sư, phó giáo sư; giáo sư tối đa 25% × 40 = 10.
Ví dụ 2: nhóm ngành khối I
Giả định nhóm ngành Kỹ thuật có G = 200, T = 8%, B = 30, k = 2/3.
- Mức cơ bản: 50; mức tăng khoa học, công nghệ: 16; mức tăng đào tạo tiến sĩ: 20.
- Hạn mức: 86; giáo sư tối đa 25% × 86 = 21,5, làm tròn lên 22.
Hai ví dụ do Ban biên tập tự đặt để minh họa cách tính, không phải số liệu của trường nào.
Công thức khuyến khích điều gì?
Mức cơ bản 25% bảo đảm mọi nhóm ngành có tiến sĩ đều có khoảng bổ nhiệm. Hai phần còn lại thưởng cho trường có nguồn thu nghiên cứu thật và đào tạo tiến sĩ thật. Việc loại thu dịch vụ, tư vấn khỏi T và yêu cầu khoản thu phải đi qua tài khoản chính thức nhằm tránh “làm đẹp” số liệu. Hệ số k cao hơn với khối I phản ánh đặc thù đào tạo tiến sĩ ở khối ngành tự nhiên, kỹ thuật.
Khi trường không còn đủ điều kiện
Nếu biến động làm trường không còn đáp ứng điều kiện định lượng, trường phải tạm dừng bổ nhiệm mới ở nhóm ngành đó, nhưng tuyệt đối không miễn nhiệm người đang giữ chức danh chỉ vì lý do này. Vị trí trống do người nghỉ việc hay chuyển công tác không tự động cho phép bổ nhiệm người thay thế nếu điều kiện chưa được đáp ứng lại. Trường phải công khai bảng kiểm điều kiện, số liệu đầu vào và kế hoạch tuyển chọn trên cổng thông tin, đồng thời tự kiểm tra toàn bộ điều kiện trước khi ký quyết định.
Những điểm còn cần làm rõ
- “25% tổng số” tính trên gì? Có thể hiểu là 25% số giáo sư, phó giáo sư hiện có sau bổ nhiệm, hoặc 25% hạn mức. Hai cách cho kết quả khác nhau khi nhóm ngành chưa dùng hết hạn mức.
- Làm tròn lên có thể khiến tỷ lệ giáo sư vượt 25% ở nhóm ngành nhỏ: nhóm ngành có 6 người thì 25% là 1,5, làm tròn thành 2, tức 33%.
- Hệ số quy đổi đồng cơ hữu được dẫn “theo quy định pháp luật” nhưng dự thảo chưa nêu mức cụ thể.
- T tính theo ba khối (STEM, Khoa học xã hội và Nhân văn, Nghệ thuật) trong khi Phụ lục II chia năm khối ngành; chưa rõ khối Sức khỏe và An ninh, quốc phòng xếp vào đâu.
- Số liệu “ba năm gần nhất” tính theo năm tài chính hay năm học chưa được xác định.
Trường nên làm gì ngay?
- Thống kê G, T, B ba năm gần nhất theo từng nhóm ngành, tách riêng đồng cơ hữu.
- Rà soát nguồn thu khoa học, công nghệ: tách thu dịch vụ, tư vấn; kiểm tra khoản nào chưa đi qua tài khoản chính thức.
- Tính thử hạn mức theo cả hai cách hiểu về trần 25% để biết khoảng chênh.
- Đối chiếu với số giáo sư, phó giáo sư đang có để thấy nhóm ngành nào còn chỗ, nhóm nào đã vượt.
Lời kết
Công thức hạn mức là thay đổi có tác động lớn nhất tới chiến lược nhân sự của các trường, vì nó gắn trực tiếp số chức danh với năng lực nghiên cứu và đào tạo tiến sĩ có thể kiểm chứng. Trước ngày 16/11/2026, các trường và nhà khoa học nên tính thử với số liệu thật và gửi góp ý về những điểm còn mơ hồ, nhất là cách hiểu trần 25% và hệ số đồng cơ hữu.
Nguồn để đối chiếu
Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.
Mở nguồn chính thức