Đến nội dung chính
Góc LuậtThông tin có nguồn · Biên tập có trách nhiệm
Tra cứu văn bản Văn bản đã lưu (0) Thông báoĐăng nhậpĐăng ký

Giờ giảng không quy đổi: dự thảo yêu cầu phó giáo sư giảng bao nhiêu giờ mỗi năm?

Dự thảo yêu cầu 3 năm mỗi năm 180 giờ hoặc 6 năm mỗi năm 90 giờ với phó giáo sư và không áp dụng hệ số quy đổi; bài giải thích cách tính giờ giảng hợp lệ.

Mục lục nội dungThu gọn

Một bác sĩ vừa khám chữa bệnh vừa giảng lâm sàng, hay một nhà khoa học dành phần lớn thời gian ở phòng thí nghiệm, sẽ đáp ứng yêu cầu giờ giảng thế nào khi xét chức danh? Dự thảo Thông tư bổ nhiệm giáo sư, phó giáo sư quy định giờ trực tiếp giảng dạy là yêu cầu tối thiểu với cả hai chức danh và nhấn mạnh: không áp dụng hệ số quy đổi. Bài viết giải thích định mức, giờ nào được tính, giờ nào không và cách chuẩn bị hồ sơ để không bị “mất giờ”.

Định mức giờ giảng

  • Phó giáo sư: 3 năm, mỗi năm 180 giờ; hoặc 6 năm, mỗi năm 90 giờ; giảng dạy từ trình độ đại học trở lên.
  • Giáo sư: khối lượng bằng một nửa của phó giáo sư (tức 3 năm × 90 giờ hoặc 6 năm × 45 giờ), và trong ít nhất 3 năm được tính, mỗi năm trực tiếp giảng một học phần sau đại học.

Hai phương án của phó giáo sư có cùng tổng 540 giờ nhưng cho phép người giảng ít hơn mỗi năm được tích lũy trong thời gian dài hơn. Với giáo sư, yêu cầu giảng học phần sau đại học mỗi năm cho thấy dự thảo muốn giáo sư thực sự tham gia đào tạo bậc cao, không chỉ hướng dẫn luận án.

Thế nào là giờ trực tiếp giảng dạy?

Điều 3 định nghĩa: là số giờ thực tế ứng viên trực tiếp giảng dạy lý thuyết, hướng dẫn thí nghiệm, thực hành trong chương trình đào tạo từ trình độ đại học trở lên, có phân công và xác nhận của cơ sở đào tạo; không tính giờ quy đổi. Như vậy, ba điều kiện phải có cùng lúc: thuộc chương trình đào tạo, do ứng viên trực tiếp thực hiện, và có hồ sơ phân công, xác nhận.

Giờ được tính

  • Giờ giảng lý thuyết, hướng dẫn thí nghiệm, thực hành trong chương trình đào tạo đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.
  • Buổi giảng dạy, thí nghiệm, thực hành tại doanh nghiệp hoặc cơ sở thực hành, nếu thuộc chương trình đào tạo và có hồ sơ xác định nội dung, người học, lịch, thời lượng và phần ứng viên thực hiện. Đây là điểm quan trọng với giảng viên y khoa giảng tại bệnh viện, hay giảng viên kỹ thuật giảng tại nhà máy.
  • Giảng dạy trực tuyến, khi đáp ứng các yêu cầu về phân công, nội dung, người học và thời lượng như trên.
  • Với học phần nhiều giảng viên: chỉ tính phần trực tiếp của từng người.

Giờ không được tính

  • Thời gian quản lý, theo dõi, kiểm tra thực tập và các nhiệm vụ khác vốn được quy đổi thành giờ giảng.
  • Hướng dẫn người học làm thực tập, đồ án, luận văn, luận án (phần này được đánh giá ở yêu cầu hướng dẫn và ở tiêu chí năng lực).
  • Bồi dưỡng ngắn hạn, báo cáo tại hội nghị, hội thảo và hoạt động ngoài chương trình đào tạo.
  • Mọi giờ quy đổi từ chấm thi, coi thi, hội đồng, nghiên cứu khoa học.

Ví dụ minh họa

Giả định một giảng viên trong năm học có 260 giờ chuẩn theo cách tính nội bộ của trường, gồm 120 giờ giảng lý thuyết, 40 giờ hướng dẫn thực hành tại phòng thí nghiệm, 60 giờ quy đổi từ hướng dẫn đồ án và 40 giờ quy đổi từ chấm thi, hội đồng. Theo dự thảo, giờ trực tiếp giảng dạy được tính chỉ là 160 giờ, chưa đủ mức 180 giờ của phương án 3 năm. Người này vẫn có thể đáp ứng theo phương án 6 năm × 90 giờ nếu duy trì đều. Ví dụ do Ban biên tập tự đặt.

Thời gian nghỉ chế độ

Phụ lục I quy định thời gian nghỉ chế độ hợp pháp theo pháp luật lao động được xem xét khi tính định mức giảng dạy, nhằm bảo đảm quyền lợi cho ứng viên nữ hoặc các trường hợp đặc biệt. Ví dụ, năm có nghỉ thai sản có thể được xem xét giảm định mức tương ứng. Ứng viên cần nộp tài liệu về thời gian nghỉ, giảm định mức trong hồ sơ (điểm g khoản 1 Điều 16).

Ai chịu tác động nhiều nhất?

  • Giảng viên ngành sức khỏe: nhiều giờ lâm sàng được tính theo quy đổi; cần chuyển sang ghi nhận giờ trực tiếp với lịch, người học, nội dung cụ thể.
  • Nhà khoa học tại viện nghiên cứu chuyển sang trường: thường có ít giờ giảng trong chương trình đào tạo chính quy.
  • Giảng viên kiêm quản lý: giờ giảm trừ do kiêm nhiệm không được tính thành giờ giảng.
  • Giảng viên dạy chủ yếu ở bậc cao đẳng hoặc bồi dưỡng: không được tính vì yêu cầu từ trình độ đại học trở lên.

Chuẩn bị hồ sơ giờ giảng

  1. Lưu quyết định phân công giảng dạy từng học kỳ, có tên học phần, lớp, số giờ.
  2. Với học phần nhiều giảng viên, lưu bảng phân chia nội dung, giờ của từng người.
  3. Với giảng dạy tại doanh nghiệp, bệnh viện: lưu lịch, danh sách người học, nội dung buổi học, xác nhận của nơi thực hành.
  4. Với giảng dạy trực tuyến: lưu nhật ký lớp học, danh sách tham gia.
  5. Xin xác nhận tổng hợp giờ trực tiếp của phòng đào tạo theo đúng định nghĩa của Thông tư, tách khỏi giờ quy đổi.

Lời kết

Quy định “không quy đổi” làm yêu cầu giờ giảng minh bạch và khó “làm đẹp” hơn, nhưng cũng đặt thách thức cho người làm nghiên cứu thuần túy và giảng viên lâm sàng. Ứng viên nên bắt đầu lưu hồ sơ giờ giảng đúng chuẩn ngay từ học kỳ này. Nếu bạn cho rằng mức 180 giờ hay cách tính giờ lâm sàng cần điều chỉnh, hãy gửi góp ý cụ thể trước ngày 16/11/2026.

Ảnh minh họa AI: học phí, góc chi tiết công cụ
Góc Luật · Ảnh minh họa AI

Nguồn để đối chiếu

Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.

Mở nguồn chính thức

Bài viết liên quan

Xem thêm