Các trường hợp bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật đất đai theo dự thảo
Điều 36 dự thảo nêu bảy trường hợp thu hồi đất do vi phạm: dùng sai mục đích, hủy hoại đất, sai đối tượng, lấn chiếm, không nộp tiền, không đưa đất vào sử dụng; khoản 8 nêu ngoại lệ.
Mục lục nội dungThu gọn
Điều 36 dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) liệt kê các trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì người sử dụng đất vi phạm. Tinh thần chung là chỉ thu hồi khi vi phạm nghiêm trọng hoặc tái phạm.
Bảy trường hợp thu hồi
- Sử dụng đất không đúng mục đích đã được giao, cho thuê, công nhận, đã bị xử phạt hành chính mà tiếp tục vi phạm.
- Hủy hoại đất, đã bị xử phạt mà tiếp tục vi phạm.
- Sử dụng đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền.
- Sử dụng đất nhận chuyển nhượng, tặng cho từ người được Nhà nước giao, cho thuê đất mà luật không cho chuyển nhượng, tặng cho.
- Lấn đất, chiếm đất đối với đất Nhà nước giao quản lý.
- Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước.
- Dự án đầu tư không đưa đất vào sử dụng, đã bị xử phạt mà tiếp tục vi phạm.
Ngoại lệ ở khoản 8
- Các trường hợp 1, 3 và 5 không áp dụng nếu người sử dụng đất được Nhà nước xem xét cấp Giấy chứng nhận (liên quan trực tiếp khoản 5 Điều 64).
- Các trường hợp 6 và 7 không áp dụng nếu có bất khả kháng.
Đang chờ xử lý khi luật có hiệu lực
Theo khoản 5 Điều 101, nếu cơ quan có thẩm quyền đã kiến nghị thu hồi đất vì vi phạm, hoặc thanh tra, kiểm tra đã kiến nghị thu hồi, mà chưa ban hành quyết định thu hồi trước ngày luật mới có hiệu lực, thì việc thu hồi thực hiện theo luật mới. Đã có quyết định gia hạn sử dụng đất thì tiếp tục thực hiện theo quyết định đó.
Nguồn để đối chiếu
Kiểm tra văn bản gốc, thời điểm và phạm vi áp dụng trước khi sử dụng thông tin.
Mở nguồn chính thức